Hơn 20 năm trước đây (2004) tập thơ dịch Hàn Quốc “Hoa Chin tal-le”của nhà thơ Kim So-wol (김소월, 1902 -1934) đã đến với bạn đọc Việt Nam, năm nay vào dịp 101 năm tập thơ ra đời (1925 – 2026), bạn đọc Việt Nam và Hàn Quốc lại một lần nữa vui mừng đón nhận tập thơ dày dặn với 100 bài thơ lựa chọn trong số 127 bài thơ song ngữ Hàn – Việt.
Dịch giả nhà thơ Lê Đăng Hoan cùng với nhà Việt Nam học Kim Gi-tae đã kịp thời chọn tập thơ “Hoa Chin-tal-le” – một tập thơ tiêu biểu, đặc trưng của thơ Hàn Quốc để giới thiệu với bạn đọc Việt Nam. Tác giả tập thơ là Kim So-wol – một trong những nhà thơ được yêu mến và có tầm ảnh hưởng sâu sắc nhất ở Hàn Quốc. Ông đã trải qua những tháng năm khó khăn, đau thương trong nỗi đau mất nước của dân tộc Hàn Quốc trong quá khứ những năm 1920 thế kỷ trước. Vì vậy thơ ông không chỉ là tiếng nói và nỗi uất hận của một người dân mất nước, trong thời kì tiếng Hàn lúc bấy giờ bị coi là tiếng địa phương không phải là quốc ngữ mà thay vào đó là tiếng Nhật. Kim So-wol làm thơ bằng chính tiếng mẹ đẻ của mình vào thời điểm đó đã là một sự khẳng định mạnh mẽ thể hiện lòng yêu nước, yêu quê hương xứ sở. Thơ Kim So-wol ca ngợi sự thủy chung của tình yêu đôi lứa, mượn hình ảnh tình yêu đôi lứa qua ẩn dụ để nói về tình yêu quê hương đất nước. Thơ ông cũng nói nhiều về thiên nhiên tươi đẹp của quê hương chạm đến niềm thương nhớ của người dân mất nước ở bạn đọc Hàn Quốc và Việt Nam. Đây là một đặc điểm của thơ Kim So-wol – những chủ đề gần gũi với tình cảm người dân đã được nhà thơ khéo léo dùng ngôn ngữ dân gian để viết nên những vần thơ bắt nguồn từ dân ca như kể chuyện cuộc sống dân dã, đời thường nên dễ đi vào lòng người. Tập thơ “Hoa Chin-tal-le” vì thế được xem là một trong những tập thơ mở ra “thể thơ mới”, tách dần ra khỏi thơ truyền thống của Hàn Quốc, trở thành dòng thơ đại chúng, phổ cập với phong cách mới mẻ, trẻ trung. Người dân bình thường Hàn Quốc yêu thích thơ Kim So-wol, coi ông là “Nhà thơ quê hương, nhà thơ dân tộc” của mình là vì thế.
Nắm bắt được tư tưởng, chủ đề của tập thơ, lại thông hiểu tiếng Hàn nên dịch giả Lê Đăng Hoan cùng với nhà Việt Nam học Kim Gi-tae đã có những bản dịch thơ tiếng Việt tâm đắc, tinh tế đạt đến độ tín, đạt, nhã, chuyển tải được tác động của thơ nguyên tác đến với bạn đọc, bước đầu làm quen bạn đọc Việt Nam với thơ Hàn Quốc dần đân đã bắt đầu trở nên quen thuộc với bạn đọc Việt Nam, qua thơ Kim So-wol với tập thơ “Hoa Chin-tal-le” và các tập thơ của các nhà thơ khác. Đó là những suy nghĩ, những tình cảm của người dân Hàn Quốc có những nét tương đồng với những suy nghĩ của bạn đọc Việt Nam trong quá khứ cũng đã có thời kỳ trải qua nỗi đau mất nước dưới ách thống trị của nước ngoài nên đã tiếp nhận thơ Kim So-wol với sự đồng cảm sâu săc. Đây là một tín hiệu vui mừng bồi đắp thêm nhịp cầu hữu nghị hợp tác văn hóa giữa hai dân tộc trong việc giới thiệu thi ca của Hàn Quốc đến với Việt Nam và trong tương lại có điều kiện giới thiệu thi ca Việt Nam đến với Hàn Quốc.
Tập thơ “Hoa Chin-tal-le” ra đời năm 1925 khi nhà thơ 23 tuổi, đến nay đã hơn 100 năm trôi qua. Đây là tập thơ duy nhất của Kim So-wol để lại cho đời được người dân Hàn Quốc rất yêu thích, ai cũng thuộc nằm lòng ít nhất là một vài bài trong tập thơ như các bài “Hoa Chil-tal-le”, “Mai ngày”, “Không thể quên”, “Cầu hồn”, “Mẹ ơi, chị ơi”, “Con đường”, v.v…
Phải nói rằng, chọn lựa tập thơ “Hoa Chin-tal-le” để dịchra thơ Việt giới thiệu với bạn đọc Việt Nam là sự lựa chọn thông minh của các dịch giả, bởi Kim So- wol là một nhà thơ để lại dấu ấn sâu sắc trong nền văn học Hàn Quốc, còn nếu nhìn từ góc độ văn học thì thơ của Kim So-wol, người được mệnh danh là “một tiếng thơ tinh hoa của thời đại, và những áng thơ trữ tình của ông chưa bao giờ thất bại khi quyến rũ những đôi tai truyền thống” (Từ điển Who’s who in Korean Literature) trong thi ca Hàn Quốc thì tập thơ “Hoa Chin-tal-le” của ông xứng đáng được giới thiệu trước tiên với bạn đọc nước ngoài.
100 bài thơ tái bản lần này của Kim So-wol được dịch sang tiếng Việt gồm các chủ đề tâm huyết của nhà thơ-công dân, nhà thơ yêu nước luôn đau đáu “lấy tình cảm dân tộc làm cội nguồn để sáng tác, trong tiến trình biến động của thời đại ấy, ông là người đã khiến cho bông hoa rực rỡ nhất của nền thơ hiện đại Hàn Quốc nở rộ” (nhà thơ Jeong Han-mo).
Bài thơ Hoa Chin-tal-le 진달래꽃 được tác giả lấy làm tựa đề cho cả tập thơ cho thấy hoa Chin-tal-le không chỉ là một loài hoa thiên nhiên – loài hoa đỗ quyên dại hoa màu hồng tím nở khắp nơi vào mùa xuân ở Hàn Quốc, loài hoa có sức sống dẻo dai, tượng trưng cho đức tính hy sinh chịu kham khổ của người phụ nữ Hàn Quốc, mà ở đây còn là biểu tượng đa nghĩa của tình yêu, sự chia ly, nỗi đau thầm kín và lòng tự trọng của người đang yêu, trong đó tầng nghĩa xúc động nhất là hình ảnh ẩn dụ cho chính người đang yêu ra đi phải dằn lòng giẫm lên thảm những cánh hoa gợi liên tưởng đến trái tim người ở lại bị tổn thương, nhưng người ấy vẫn chấp nhận để người mình yêu giẫm lên hoa vừa gợi lên tình yêu hết mình vừa gợi nỗi đau của một tình yêu không được đáp lại như mong muốn, ở đây ý muốn nói đến một lúc nào đó khi anh không còn yêu em nữa, nếu anh rời bỏ em, dù có đau khổ đến chết em cũng sẽ không khóc 죽어도 아니 눈물 흘리오리다 khi chia tay:
Khi anh đã chán chường
Bỏ em mà rời xa
Tiễn anh đi êm đẹp
Em không trách đâu mà!
…………………………
Khi anh đã chán chường
Bỏ em mà rời xa
Lòng em dù khắc khoải
Cũng không khóc đâu mà.
Bản dịch thơ đã được dịch giả tinh tế nắm bắt được trong nguyên tác đại từ 나 (na) chỉ có nghĩa là “tôi”, không xác định giới tính của người nói. Ở đây theo cách đọc truyền thống của văn học Hàn Quốc nhân vật trữ tình thường hình dung là phụ nữ tiễn người yêu ra đi, nhất là Kim So-wol thường sử dụng nhân vật trữ tình là nữ, trong đó có bài thơ Hoa Chin-tal-le.
Bài thơ “Mẹ ơi, chị ơi” (엄마야 누나야) khi mới ra đời năm 1922 đã nói lên nỗi ai oán của dân tộc Hàn Quốc dưới ách thống trị của Nhật Bản. Bài thơ ngắn khắc họa hình ảnh bờ sông gợi liên tưởng đến một miền sống tự do, thanh thản.trong không gian mơ ước của mái ấm gia đình. Nhân vật trữ tình trong bài thơ không có những ước vọng lớn lao mà chỉ mong được sống cùng mẹ và chị. Hình ảnh “cát vàng lấp lánh” gợi ra một không gian trong trẻo, yên ả. Thiên nhiên không chỉ là cảnh vật mà còn như người bạn đồng hành, đem đến niềm vui và sự bình yên cho con người. Giọng điệu thơ có âm hưởng đồng dao nên năm 1964 bài thơ được phổ nhạc theo điệu đồng dao được công chúng biết đến rộng rãi và yêu thích như bài hát đồng dao cho thiếu nhi. Đây là mặt mạnh của Kim So-wol ở khả năng dùng những hình ảnh và tiếng nói dân gian hết sức bình dị để khơi dậy những tình cảm sâu xa của con người:
Mẹ ơi, chị ơi chúng ta hãy sống bên bờ sông
Có những hạt cát vàng lấp lánh trong vườn.
Có tiếng hát của lá vàng sau cửa,
Mẹ ơi, chị ơi chúng ta hãy sống bên bờ sông.
Bài thơ “Mai ngày”(먼 후일 – Meon hu-il) có nhân vật trữ tình liên tục nói rằng mình đã quên người yêu, trong khi chính lời thơ lại cho thấy người ấy chưa bao giờ quên, một cách nói ngược với ý nghĩ được che giấu:
Mai ngày em có tìm tôi
Thì tôi sẽ nói “ quên rồi còn đâu!
Nhưng đến hai câu cuối, nhà thơ đã trải lòng mình: “Hôm nay, hôm qua tôi vẫn chẳng quên; chỉ đến ngày xa xôi ấy, tôi mới nói rằng đã quên.”. Càng cố trải lòng mình đã quên, nhân vật trữ tình càng bộc lộ nỗi nhớ sâu nặng. Cái nghịch lý ấy chính là tứ thơ của bài thơ – nỗi nhớ khôn nguôi người yêu. Ở đây có thể hiểu 먼 후일 là “Một ngày xa xôi”, một thời điểm còn ở phía trước, không xác định. Người nói tuyên bố quên lãng đến thời điểm tương lai xa xôi, trong khi hiện tại vẫn không thể quên. Bản dịch thơ lục bát tiếng Việt rất phù hợp với tâm trạng của nhân vật trữ tình trong nỗi nhớ được nén lại trong tim:
Mai ngày em có tìm tôi
Thì tôi sẽ nói “ quên rồi còn đâu
Em dù mang nặng tình sâu,
“Bởi vì quá nhớ quá sầu, đành quên”.
Nếu còn chưa thỏa lòng em
“Tin đâu mà nhớ cho thêm nặng lòng”
Hôm qua dù vẫn còn mong
Thì mai ngày cũng “nhớ mong ích gì!”
Bài thơ “Con đường” diễn tả tâm trạng của kẻ lữ hành phiêu bạt dù quê hương yêu dấu còn đó vẫy gọi, nhưng không thể quay về khi đất nước đang trong thời kỳ thuộc địa của nước ngoài: Đi, đi, đi con đường đi trăm ngả/ Đường trăm nẻo/ Thế mà tôi, không có ngả nào đi. Nhân vật trữ tinh trong thơ có thân phận của một người mất phương hướng. Qua hình ảnh người lữ khách, tiếng quạ kêu và đàn ngỗng trời bay trên không trung, nhà thơ diễn tả nỗi cô đơn và sự bế tắc của một con người có quê hương mà không có con đường nào để trở về. Bản dịch tiếng Việt dùng thể thơ tự do để nói lên nỗi lòng của lữ khách là phương án dịch phù hợp:
Đêm qua, trong nhà lữ khách
Nghe quạ kêu quác quác,
Báo trời rạng sáng bình minh.
Hôm nay
Sẽ đi đâu
Qua vài chục dặm đường
Lên núi chăng,
Hay đi xuống cánh đồng
Không ai mời, tôi biết đi đâu.
……………………………..
Tôi cất tiếng gọi “ới ơi” lên không trung
Chú ngỗng trời trên đó,
Còn mình tôi đứng giữa ngã ba đường.
Đi, đi, đi con đường đi trăm ngả/
Đường trăm nẻo,
Thế mà tôi, không có ngả nào đi.
Có thể nói, tập thơ “Hoa Chin tal-le” của nhà thơ Kim So-wol đã được hai đồng dịch giả giới thiệu với bạn đọc Việt Nam đúng lúc quan hệ hợp tác văn hòa Việt Nam – Hàn Quốc đang ngày càng phát triển. Thơ Kim So-wol chưa đựng nhiều tinh túy phương Đông, nhiều bài thơ trong tập thơ “Hoa Chin Tal-le” mang đậm chất dân gian đã hơn một thế kỷ nay thơ Kim So-wol là món ăn tinh thân của công chúng Hàn Quốc, nay được tỏa hương sắc đến với bạn bạn đọc Việt Nam qua bản dịch kỹ lưỡng, tinh tế của dịch giả Lê Đăng Hoan và nhà Việt Nam học Kim Gi-tae. Xin được giới thiệu tập thơ cùng bạn đọc Việt Nam yêu văn học Hàn Quốc.
Oct 14, 2026
PGS TS Nguyễn Xuân Hòa