Trong sâu thẳm của đại ngàn Trường Sơn, nơi những mạch đá ngầm nghìn năm vẫn bền bỉ chắt chiu từng giọt nước mắt của đất để tạo nên dòng Rào An thanh khiết, một kịch bản nghiệt ngã đang âm thầm được viết lên. Nhan đề của nó không nằm trên những trang giấy trắng, mà được khắc bằng bê tông, sắt thép và sự lạnh lùng của những phép tính kinh tế: “Kịch bản giết một dòng sông”.
Nơi đây, giữa vùng biên viễn Sơn Kim, nơi từng là điểm nóng của những chuyến hàng lậu và thuốc phiện, nhưng giờ đây đã hồi sinh xanh ngắt nhờ bàn tay nâng niu của những người yêu rừng. Và trong ngàn xanh ấy, đỉnh Bà Mụ kiêu hãnh soi bóng xuống dòng Rào An – một dải lụa mềm mại nối liền đất mẹ với bầu trời. Thế nhưng, dải lụa ấy đang đứng trước nguy cơ bị cắt rời bởi dự án Thủy điện Giao An II.
Trong tình hình biến đổi khí hậu diễn biến phức tạp, hệ lụy từ việc phát triển thủy điện ồ ạt đã trở thành một thực tế hiển nhiên mà ai cũng có thể nhận diện. Việc xây dựng một nhà máy thủy điện không đơn thuần là đặt lên dòng sông một khối bê tông, mà là một cuộc “phẫu thuật” thô bạo vào cơ thể tự nhiên. Để có được dòng điện, chúng ta buộc phải đánh đổi bằng những cánh rừng phòng hộ bị san phẳng, những dòng chảy tự nhiên bị ngăn cắt để tích nước, tạo nên những biến đổi địa chất tiềm ẩn nguy cơ sạt lở và động đất kích động. Nỗi đau ấy còn hằn sâu lên sinh kế của người dân vùng hạ du, khi nguồn nước tưới tiêu trở nên khan hiếm và hệ sinh thái thủy sinh bị hủy diệt, khiến những người sống dựa vào đánh bắt và nuôi trồng thủy sản rơi vào cảnh khốn cùng. Vậy mà nay, dự án Thủy điện Giao An II tại vùng đầu nguồn Rào An nếu thực hiện thì vẫn tiếp tục sự đánh đổi đầy rủi ro này.

Từ kế hoạch “tối ưu hóa” trên mặt giấy…
Hiện nay, dự án Thủy điện Giao An II đang trong quá trình thực hiện các bước để điều chỉnh và gia hạn Giấy chứng nhận đầu tư. Theo báo cáo từ phía chủ đầu tư (Công ty CP Thủy điện Giao An), để giảm thiểu tác động đến diện tích rừng tự nhiên, dự án đã thay đổi hoàn toàn công nghệ thiết kế: chuyển từ phương án làm kênh dẫn hở sang đào hầm ngầm áp lực xuyên núi dài 5,2km.
Với phương án này, chủ đầu tư khẳng định diện tích chiếm đất sẽ giảm xuống còn 25,29 ha và hoàn toàn không phá vỡ bề mặt rừng tự nhiên. Đồng thời, để bảo vệ hệ sinh thái hạ du, phía công ty cam kết duy trì dòng chảy sinh thái ở mức 0,98 m³/s qua cống xả chuyên biệt – một con số được cho là cao hơn quy định bình thường. Dự án hiện đã có tên trong danh mục Kế hoạch thực hiện Quy hoạch điện VIII và đang ở giai đoạn lập báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) sơ bộ.
…Đến những lỗ hổng pháp lý và nguy cơ sinh thái hiện hữu
Tuy nhiên, đằng sau những con số “cam kết” đó là một thực tế đáng báo động mà Trung tâm Nghiên cứu Sinh thái Nhân văn Vùng cao (CHESH) cùng cộng đồng địa phương đã liên tục kêu cứu suốt nhiều năm qua.
Điểm bất cập nghiêm trọng nhất nằm ở vị trí xây dựng. Dự án dự kiến triển khai tại khu vực suối Rào An, An Bún – nơi vốn là vùng đầu nguồn có chức năng phòng hộ xung yếu. Nguy hiểm hơn, toàn bộ diện tích dự án nằm chồng lấn lên cả vùng lõi (31.690,1 ha) và vùng đệm (112.599,7 ha) của hồ sơ đề cử Khu Dự trữ sinh quyển Thế giới Vũ Quang đang được UNESCO thẩm định.
Hồ sơ của chúng ta đang nằm tại Paris, chờ đợi UNESCO thẩm định. Liệu chúng ta sẽ trả lời thế nào với thế giới khi một mặt trình diễn di sản, một mặt lại âm thầm bức tử chính vùng lõi của di sản đó?
Việc triển khai thủy điện tại đây không chỉ vi phạm các nguyên tắc cốt lõi của UNESCO về bảo tồn di sản thiên nhiên mà còn đe dọa trực tiếp đến 13 chỉ số an ninh và 9 chỉ số an toàn theo Nghị quyết số 51-NQ/TW của Bộ Chính trị về chiến lược bảo vệ an ninh quốc gia.
Có đáng để “bức tử” một dòng sông?
Các chuyên gia sinh thái cảnh báo rằng, việc đào hầm 5,2km xuyên núi không hề “vô hại” như lời quảng cáo. Nó sẽ gây đứt gãy cấu trúc địa tầng, phá vỡ liên kết bền của đất, dẫn đến nguy cơ sạt lở, trượt núi và động đất kích động, đe dọa trực tiếp đến sinh kế của nhân dân vùng hạ du.
Hơn nữa, hệ sinh thái linh thiêng từ đỉnh Bà Mụ xuống thác Gầm Thép, Rào An là hành lang di cư và sinh sản không thể thay thế của các loài thủy sinh, trong đó có những loài cá quý hiếm đang đứng trước nguy cơ tuyệt chủng.
Một dòng sông là nơi cư trú của biết bao loài thủy sinh, và cả loài người. Nó cũng là huyết mạch, là long mạch linh thiêng đã từng nuôi dưỡng những tâm hồn lớn của dân tộc. Vùng đất Hà Tĩnh này, nơi sinh ra đại thi hào Nguyễn Du, nơi ghi dấu những bước chân đầu đời của Chủ tịch Hồ Chí Minh, không thể chỉ được nhìn nhận qua những con số MW điện năng. Long mạch ấy, nếu bị ngăn đôi bởi những đập thủy điện, nếu bị rút cạn bởi những đường hầm xuyên núi, thì cái giá phải trả không thể đo đếm bằng tiền.
Nếu không thực hiện dự án, chúng ta có một Khu dự trữ sinh quyển thế giới, có sự vẹn toàn của biên giới, có niềm tin của dân và trên hết là giữ được long mạch cho đời sau. Nếu thực hiện, chúng ta chỉ được thêm một ít điện năng nhưng phải đánh đổi bằng một dòng sông chết, một cánh rừng bị tổn thương vĩnh viễn, một vết sẹo không bao giờ lành trên cơ thể của mẹ thiên nhiên và nỗi bất an của hàng ngàn hộ dân.
Chúng ta đều biết rằng từ cuối thế kỷ trước hầu hết các nước đã dừng đầu tư thủy điện, đặc biệt là thủy điện nhỏ đầu nguồn các con sông do nguy cơ gây thảm họa môi trường nghiêm trọng trong dài hạn.
Vậy chúng ta có nên đánh đổi một hệ sinh thái giàu có, đầy tiềm năng, một di sản thiên nhiên mang tầm vóc quốc tế để có được một công trình thủy điện nhỏ nhoi đầu tư 500 tỷ đồng với số tiền thuế đóng góp cho ngân sách tỉnh chỉ vỏn vẹn 10-12 tỷ đồng mỗi năm?
Sự đánh đổi để lấy 13,6MW công suất điện từ dự án Thủy điện Giao An II càng trở nên khập khiễng khi đặt lên bàn cân so sánh với những giá trị khổng lồ mà khu rừng hơn 300 hecta mà HEPA (Hệ sinh thái rừng Sông Ngàn Phố) đang cống hiến miễn phí cho cộng đồng mỗi năm. Theo tính toán khoa học, mỗi hecta rừng tại đây có khả năng tiết ra tới 16 triệu lít nước ngọt mỗi năm; như vậy, với diện tích hơn 300 ha, khu rừng này đều đặn cung cấp khoảng 4.800 tỷ lít nước, duy trì sự sống cho dòng Rào An và đảm bảo an ninh nguồn nước cho toàn bộ vùng hạ du.
Đặc biệt, trong bối cảnh thị trường tín chỉ carbon đang trở thành xu hướng toàn cầu, giá trị kinh tế của rừng HEPA là không thể phủ nhận. Với khả năng hấp thụ khoảng 155.000 tấn CO2 hàng năm, nếu quy đổi theo giá thị trường quốc tế (khoảng 10-20 USD/tấn), khu rừng này có thể mang lại nguồn lợi từ 1,5 đến 3 triệu USD (tương đương hàng chục đến hàng trăm tỷ đồng) mỗi năm mà không cần phá hủy bất cứ một cành cây nào. Con số này vượt xa mức đóng góp ngân sách ít ỏi chỉ từ 10-12 tỷ đồng mà dự án thủy điện dự kiến mang lại. Rõ ràng, việc bảo tồn “mỏ kim cương xanh” HEPA không chỉ là bài toán bảo vệ môi trường, mà còn là một quyết định kinh tế thông minh và bền vững hơn gấp nhiều lần so với việc đào hầm xuyên núi để làm thủy điện.
Lời kêu cứu từ dòng Rào An và những cánh rừng phòng hộ đầu nguồn đang khẩn thiết hơn bao giờ hết. Đã đến lúc các cơ quan chức năng cần nhìn nhận lại sự đánh đổi này một cách công tâm và khoa học nhất, trước khi dòng sông bị “bức tử” vĩnh viễn.
Đừng để hậu thế phải đọc về Rào An như một dòng sông chỉ còn trong ký ức, bị bức tử bởi chính sự vô tâm của cha ông mình. Hãy để dòng sông ấy mãi là “nàng công chúa” được bao bọc bởi màu xanh của hy vọng, chứ không phải là nạn nhân của một kịch bản vô minh mang tên Thủy điện Giao An II.