Nguyễn Khang
Ông về hưu với chức danh chuyên viên bộ môn Điền kinh của một Sở, mà dân dã hay gọi là bộ môn chạy. Hôm cơ quan tổ chức liên hoan chia tay ông, một cháu mới tạm tuyển đến nói:
– Cháu chúc bác nghỉ hưu thật vui vẻ và bác hãy bỏ cái chữ “chạy” các cự ly dài ra khỏi đầu bác nhé!
Sau đó, nó lại hỏi ông như phỏng vấn:
– Cháu hỏi thật bác, lúc này, lúc chia tay cơ quan, bác nhớ nhất điều gì và sợ nhất điều gì ạ?
– Vẫn là “chạy” cháu ạ.
Thằng bé tạm tuyển cười toe toét. Nó tưởng ông đùa, nhưng đâu biết đó đúng là tâm tư thật của ông.
Ông lớn lên rất đặc biệt. Ai cũng biết thân hình là do cha mẹ mình cho. Ông dẻo dai và phát lộ năng khiếu chạy từ khi đi mẫu giáo. Cứ cái gì dính dáng đến chạy là ông đều về nhất. Bắt đầu vào cấp hai là ông đã được vào đội tuyển của trường, rồi cấp ba cũng thế. Mấy cái xèng nhôm mà hàng xóm hay gọi là huy chương ông treo đầy nhà. Lúc bé là cự ly ngắn, càng lớn ông lại càng thử sức với môn đường dài. Thành tích cao nhất của ông là hạng ba toàn quốc giải bán marathon và full marathon 42,195 km. Nghĩ lại, ông thấy mình ngày trẻ cũng vĩ đại như những chiến binh Hy Lạp.
Vợ ông mê ông cũng vì điều đó. Hồi ấy, nàng mê chàng, mê cái cảm giác anh hùng của người cán đích trong các cuộc thi điền kinh, nhất là cự ly đường dài. Nàng mê cái cảm giác được quạt, được chấm mồ hôi, được sờ đôi chân rắn chắc của chàng lắm. Và nhất là sau mỗi lần về nhất, phần thưởng chí ít cũng là cái chậu nhựa đỏ, cái phích Rạng Đông, ngoài ra còn ba bốn hộp sữa và chiếc bánh mì nữa. Hồi bao cấp, phần thưởng thế là quý lắm, chưa kể “ông nhà bà” cũng lên báo vài ba bận, đủ để bà nở mày nở mặt với đám bạn là cô giáo cùng trường.
Cuộc đời cứ thế trôi đi. Nhờ thành tích cao, sau thời đỉnh cao, Phòng Thể dục Thể thao quận (nay là phường) mời ông về làm cán bộ Văn – Thể, chuyên công tác thể thao, đặc biệt là việc tổ chức các giải chạy phong trào: phong trào cho trường học các cấp, phong trào cho khối công nhân, khối công chức, viên chức, lực lượng vũ trang, phong trào cho cả những đối tượng cần sự quan tâm hơn của xã hội như trẻ khuyết tật, người cao tuổi… Ông chả lúc nào hết việc. Do tận tụy, rồi ông được nhận về Thành phố và lên Sở.
Đặc thù công việc nên hồi đi làm ông đi suốt. Vợ cứ nói ông chạy vừa thôi, đâu cứ phải “tuần chay nào cũng có nước mắt”. Trước nàng thích bao nhiêu thì về sau nàng càm ràm bấy nhiêu. Nhưng thực ra nghề của ông là nghề chạy, nếu không ra sân bãi thì chẳng lẽ lại chạy quanh nhà? Món chạy vật lý thì ông giỏi thật, còn món “chạy” khác thì chắc không giỏi, nên bà vợ cũng đôi lần bĩu môi. Đến tận khi về hưu, ông vẫn chỉ là chuyên viên.
Ông về hưu, bà vợ vui ra mặt vì có người đỡ bà chăm lo cho thằng cháu nội. Đều đặn hằng ngày lúc 7 giờ, hôm thì con trai nhưng chủ yếu là con dâu chở cháu sang gửi ông bà buổi sáng, đầu giờ chiều đưa đi học và cuối giờ chiều đón về. Với sức vóc và “nghề” chạy của ông, việc đưa đón cháu chẳng có gì khó khăn. Bà vui và đỡ hẳn phàn nàn. Ông vui vì tranh thủ lúc đưa cháu đi học tạt ngang tạt ngửa chỗ này chỗ kia cũng vui, chứ ở nhà mãi thì bức bách lắm. Thằng cháu của ông bà ngoan lắm, hôm nào sau bữa sáng cũng mải mê học toán, học văn với bà, thi thoảng giờ nghỉ nó cũng chơi game và nở nụ cười rất vui.
Thằng con trai ông cũng cưa đổ cô vợ qua cái “nghề” chạy. Nó cũng tốt mã, cũng có trái tim đập và bóp oxy khỏe hơn người khác nên mặt mũi lúc nào cũng hồng hào và bàn tay rất ấm. Hồi xưa, con dâu ông bây giờ – theo lời con trai kể – cũng có nhiều thằng con trai khác theo đuổi, nhưng “chạy” đều và săn sóc cô gái thì chỉ có nó là nhất. Sáng, trưa, chiều, tối lúc nào cũng ở bên người yêu đến mức mẹ nó bảo: “Đẹp trai như mày, khỏe mạnh như mày, kiếm đâu chả được vợ mà cứ phải đâm đầu đôn đáo chạy dọc chạy ngang thế? Sau này không biết mày có chăm mẹ được thế không?”.
Nhưng đúng là con dâu bà khéo ăn khéo nói, mỏng mày hay hạt, nhà có việc gì “đối ngoại” hay phải “chạy vạy” người ta cứ giao cho nó là xong. Nó làm thư ký giám đốc cũng được sếp quý lắm. Thi thoảng bà cũng thấy loáng thoáng lời ra tiếng vào, nhưng nhìn con trai bà hãnh tiến, phát triển sự nghiệp và gia đình nó hạnh phúc nên bà chả có lý do gì để phàn nàn. Vợ chồng nó cũng chưa bao giờ để bà phải giục đóng tiền ăn cho mẹ đi chợ, còn chuyện lời ra tiếng vào chắc chỉ là sự ghen ăn tức ở với nhà bà, bà nghĩ thế.
Hôm nay, sau bữa sáng, nó vác sách ra ngồi ở bàn như mọi khi. Nhưng rồi nó biến mất, 10 phút, rồi 15 phút, rồi 20 phút không thấy nó về. Ông bà hốt hoảng nhao đi tìm.
Ông leo lên tầng 6 tòa nhà đối diện – nhà thằng Hùng, bạn cháu ông mà nó vẫn hay nói là sang mượn vở. Cánh cửa mở ra, hóa ra cháu ông không sang đây. Nó đi đâu được nhỉ? Ông hấp tấp chạy sang siêu thị tìm cháu, có thể nó muốn ăn gì ngoài cái khẩu phần đều đặn mà bà vẫn lo cho nó chăng? Ông chạy dọc những dãy kệ hàng hóa, ông lao đến kệ bánh kẹo, rồi ông lục tung cả siêu thị cũng chẳng thấy nó.
Tiếng chuông điện thoại reo lên, bà gọi. Ông thở nhẹ, chắc bà thấy nó rồi. Đầu dây bên kia bà khóc nấc: – Ông có thấy nó chưa? Tôi ra chợ và sang nhà sách bên cạnh tìm khắp cũng chưa thấy nó!
Ông tắt máy, chạy xuống sân thể thao của khu chung cư tìm. Ông đảo mắt khắp nơi cũng chẳng thấy cháu mình đâu. Ông ngồi thừ ra một lúc rồi nhớ ra, hình như có lần cháu ông nhờ ông đưa đến nhà cái Hằng lớp trưởng, cách nhà ông chừng 4–5 dãy phố gì đó. Không do dự, ông co chân chạy ngay đến đó. Chưa khi nào ông lại thấy “nghề chạy” của mình có ích như bây giờ. Ông đến nơi, nhưng cháu Hằng nói bạn không đến nhà mình.
Ông bắt đầu rối trí. Bỗng ông gặp một ông cụ đi ăn sáng về, bảo ở bến xe buýt có con nhà ai lạc mà khóc dỗ không nín. Ông chạy băng băng đến đó, nhưng đứa cháu gái đeo ba lô ở đấy lại bảo cháu đi xe buýt bị mất điện thoại. Ông càng quẫn trí hơn. Nó có thể đi đâu được nhỉ? Chắc ông phải ra đồn công an báo trẻ lạc và nhờ các chú ấy phối hợp tìm thôi, chứ thế này thì tìm làm sao được!
Loanh quanh thế nào mà ông ra đến sát bờ sông. Ông thấy một chiếc tất màu xám nằm trên bờ, một chiếc nổi phềnh trên mặt nước. Mặt ông xám ngoét. Nhưng rồi ông thấy cháu mình thật. Nó đang ngồi cắm mặt xuống dòng sông.
Ông chạy lại ôm chầm lấy nó, nước mắt ông rơi như lần về đích giải toàn quốc cuối cùng: – Sao cháu lại ngồi đây, để ông bà đi tìm suốt thế? – Ông ơi, cháu buồn lắm… – Thằng bé nói. – Có chuyện gì thế? Cháu buồn vì bố mẹ mắng, hay món của bà không ngon, hay toán cô giao khó quá, hay mèo nhà cháu ốm? Nói ngay cho ông biết đi! – Không phải thế… Hôm qua cháu nghe thấy bố mẹ cháu cãi nhau. Mẹ cháu nói: “Bây giờ cái gì cũng phải ‘chạy’ hết. Ông tưởng cái chức phó phòng quèn của ông là tự nhiên nó đến tay ông chắc? Không có tôi ‘lo liệu, hy sinh’ thân mình thì mãi mãi đời ông chỉ là con gián thôi nhé. Thôi, đừng có kiểm tra điện thoại của tôi nữa đấy. Mai nhớ đánh thức tôi đúng giờ để kịp đi công tác với sếp đấy”. Ông ơi, “hy sinh” là người lớn nói, còn bọn cháu nói là “chết”, đúng không? Cháu sợ mẹ cháu hy sinh cho bố cháu thì cháu ở với ai… Lại cả cái Linh bạn cháu, hôm qua nó nói ứ chơi với cháu nữa vì cháu chả có gì tặng nó. Thằng Khoa “vẩu” lớp cháu vừa tặng nó thanh sô-cô-la và một con Pikachu, thế là nó chỉ nói chuyện với thằng Khoa thôi ông ạ.
Ông nghẹn đắng. Nhìn đứa cháu nhỏ gánh trên vai những nỗi sợ người lớn mà ngay cả ông cũng chưa kịp hình dung, ông siết chặt lấy nó, giọng trầm ấm trấn an: – Trời, không có gì là không giải quyết được! Mọi thứ mình đều phải bình tĩnh vượt qua, phải giống như ông tham gia giải chạy đường dài trước kia chứ. Từ từ rồi khoai sẽ nhừ. Mẹ cháu sẽ không “hy sinh” đâu, ông tin như thế!
Hai ông cháu ôm nhau đi dọc bờ sông. Ông đưa nó về nhà giao cho bà, rồi đi tắm. Đã lâu lắm ông không chạy. Ông lên giường thiếp đi, và bỗng ông thấy mình lại ngã vào vòng tay của cô bé người yêu đúng khoảnh khắc băng qua vạch đích thuở nào.