Nguyễn Hữu Thăng
LTS: Nhân dịp chào mừng ĐH CLB thơ dịch, Hội nhà văn Hà Nội, BBT VHVN đăng bài viết của dịch giả Nguyễn Hữu Thăng – Chủ tịch Câu lạc bộ, về tập thơ dịch từ tiếng Hàn “Hoa Chin-tal-le” của dịch giả Lê Đăng Hoan, thành viên CLB.
Cuốn sách thơ dịch “Hoa Chin-tal-le” của nhà thơ nổi tiếng Hàn Quốc Kim So-wol là tác phẩm thơ đầu tiên của một nhà thơ Hàn Quốc được dịch giả Lê Đăng Hoan cùng Giáo sư Kim Gi-tae, nhà Việt Nam học Đại học Ngoại ngữ Hàn Quốc dịch trực tiếp từ tiếng Hàn sang tiếng Việt từ năm 2014, lần này được dịch giả Lê Đăng Hoan biên soạn, bổ sung, chỉnh lý lại và xuất bản ở cả hai nước Việt Nam và Hàn Quốc nhân dịp kỷ niệm 100 năm ngày tập thơ ra đời (1925-2025). Đọc cuốn sách thơ dịch “Hoa Chin-tal-le” tái bản lần này, bạn đọc Việt Nam có thêm dịp được thưởng thức nội dung và nghệ thuật thể hiện tâm hồn và tài năng nghệ thuật của tác giả qua những bài thơ dịch vừa sát nghĩa nguyên tác vừa giàu chất thơ của người dịch.
Tiến sĩ Lê Đăng Hoan là dịch giả dịch thơ tiếng Hàn Quốc hàng đầu ở Việt Nam, đến nay đã xuất bản 15 đầu sách thơ dịch từ các tác phẩm thơ tiêu biểu của Hàn Quốc. Ông từng là ủy viên Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Việt Nam, đang là ủy viên Hội đồng Văn học dịch Hội Nhà văn Hà Nội. Gần 10 năm qua, ông tham gia Câu lạc bộ Thơ dịch Hội Nhà văn Hà Nội – một tổ chức chuyên về dịch thơ gần như duy nhất của Việt Nam, được thành lập đã 29 năm, tập trung nhiều dịch giả – nhà thơ có tên tuổi. Sự tham gia của ông vào CLB đã góp phần quan trọng nâng cao chất lượng sinh hoạt, làm phong phú các ngoại ngữ được sử dụng dịch giao lưu trong CLB (đến nay gồm 11 ngoại ngữ). Ông Lê Đăng Hoan là dịch giả duy nhất dịch tiếng Hàn Quốc. Ông đã giới thiệu một số bài thơ Hàn Quốc qua bản dịch nghĩa của ông hoặc có phiên bản tiếng Anh, tiếng Hán, tiếng Nga để các hội viên chuyển ngữ sang thơ tiếng Việt giao lưu. Hàng năm, CLB đều tập hợp, tuyển chọn nhiều bài thơ Đông Tây kim cổ tiêu biểu để xuất bản thành sách. Trong những cuốn sách thơ dịch đó, dịch giả Lê Đăng Hoan luôn chọn dịch, giới thiệu chuyên đề thơ của các tác giả tài năng, nổi bật của Hàn Quốc như Ko-un, Han Yong Un, Kim So-wol, Kim Min-Jeong, Lee Nan-hee…
Trong cuốn sách “Thơ dịch và sáng tác tuyển chọn -2022” của CLB Thơ dịch Hội Nhà văn Hà Nội, dịch giả Lê Đăng Hoan đã từng giới thiệu 10 bài thơ của thi nhân nổi tiếng Hàn Quốc Kim So-wol: Chuyện xưa, Không thể quên, Mai ngày, Ngắt cỏ, Chiều tuyết rơi, Ngày xưa còn chưa biết, Chân trời, Con kiến, Cha mẹ, Chiều thu. Trước khi đăng những bài thơ dịch này, dịch giả đã trân trọng giới thiệu về tác giả: “Kim So-un (1903-1934) là nhà thơ chứa ẩn một tư chất thiên tài của Hàn Quốc… là một nhà thơ dân gian mà không ai không thuộc lòng ít nhất một số bài thơ của ông. Ông cũng là một trong những nhà thơ tiêu biểu đầu tiên của “Thể thơ mới Hàn Quốc”.
Lời giới thiệu ngắn gọn trên là nhận định khái quát rất chính xác những gì là tinh hoa của thơ Kim So-wol, mà khi đọc cả cuốn sách “Hoa Chin-tal-le”, chúng ta càng thấy tâm đắc.

Thơ Kim So-wol mang phong cách dân gian, dễ đi vào lòng người, lại là những bài thơ tiêu biểu đầu tiên của thể thơ mới Hàn Quốc, mang phong cách mới lạ, hấp dẫn nên thơ ông mới thu hút được sự yêu thích của đông đảo công chúng Hàn Quốc, đến mức ai ai cũng thuộc một vài bài thơ của ông và có nhiều bài thơ được phổ nhạc thành bài hát được phổ biến rộng rãi.
Thơ Kim So-wol trong “Hoa Chin-tal-le” có những bài nói về triết lý cuộc sống, tự sự, miêu tả thế giới nội tâm… Nhưng phần lớn các bài thơ trong cuốn sách là thơ trữ tình, nói về tình yêu quê hương đất nước, yêu thiên nhiên, yêu cuộc sống lao động bình thường của nhân dân, yêu gia đình, cha mẹ, tình yêu đôi lứa… Thơ ông có rất nhiều bài tả cảnh thiên nhiên: mùa xuân, mùa thu, chân trời, trăng sáng, biển, rừng, cánh đồng, luống cày, mầm cây, hoa lá, tuyết rơi, cánh diều, những con chim, con kiến… Thiên nhiên trong thơ ông vô cùng đẹp đẽ, sinh động, được nhân cách hóa, ẩn dụ để gửi gắm tình yêu quê hương đất nước. Tình yêu nam nữ trong thơ ông thật đằm thắm, thủy chung: Dù nét chữ run run/ Lời văn dù mộc mạc/ Là những lời nước mắt chắt lọc tự tim em (Một ngày cô tịch); Đứng trước nhà em, suốt ngày tôi lắng nghe/ Bài hát dịu hiền của người thương nhớ (Bài hát em tôi); Ngày mỗi ngày, anh ra bên lạch nước/ ngồi một mình/ Có điều gì mà suy nghĩ miên man! / Đi mà chắc chẳng đi đâu/ Vẫn ngôi yên ở đó/ Thì xin anh hãy nhớ hãy chờ (Ngồi bên lạch nước). Nhưng thơ trữ tình của Kim So-wol lại thường mang theo nỗi buồn về sự xa cách, mất mát, nhớ thương: Trong mi mắt bỗng rưng rưng ngấn lệ,/ Khóc vô tình nhìn hoa đã tàn phai./Lòng vô vọng, nhìn xuân tàn hoa rụng… (Chiếc váy đầu tiên).
Nếu chúng ta nhìn vào bối cảnh lịch sử ra đời của thơ Kim So-wol, thì những bài thơ của ông được sáng tác trong thời kỳ Hàn Quốc bị Nhật Bản xâm chiếm, đô hộ, nhân dân khổ đau, đất nước bị mất quyền độc lập tự do. Nỗi buồn trong thơ trữ tình Kim So-wol ẩn chứa nỗi buồn sâu sắc rộng lớn hơn của người dân mất nước.
Tuy nhiên, cùng với tâm trang buồn thương, tiếc nhớ, thơ Kim So-wol vẫn lấp lánh những tia hy vọng, lạc quan về tương lai tươi sáng của dân tộc: Biển ở đâu, phía bên kia là đất nước khác/ Mà ta nhớ ta thương, muốn đến đó hàng ngày (Biển). Đó là khát vọng muốn giành lại biển, giành lại chủ quyền của Tổ quốc của mình khi Tổ quốc đang nằm dưới ách thống trị của ngoại bang.
Ông ca ngợi đàn kiến cần cù, kiên trì xây tổ trong mưa gió cũng là sự gửi gắm niềm tin vào bản lĩnh, ý chí, sức mạnh của nhân dân: Gió rít trên cành liễu/ Là khi con kiến lưng eo,/ Cong mình xây tổ ngày theo mỗi ngày, / Nửa ngày xuân, suốt một ngày,/ Cần cù xây tổ dạn dày nắng mưa (Con kiến). Có bài thơ còn thể hiện trực tiếp hơn: Cố hết sức mình đẫm mồ hôi, muốn đi vạn dặm khắp muôn nơi/ Lòng đã quyết rồi xin cứ thử/ Trên đường thẳng rộng tựa tên bay (Ngàn vạn dặm). Niềm lạc quan về sức mạnh và tương lai của đất nước và nhân dân được hình tượng hóa bằng hình ảnh và sức sống của hoa Chin-tal-le và khá nhiều hình ảnh về mùa xuân. Chin-tal-le là loài hoa mọc tự nhiên ở Hàn Quốc, có sức sống mãnh liệt, bền bỉ, sinh trưởng được ở những nơi đất đai cằn cỗi, khí hậu khắc nghiệt. Tình yêu thủy chung, vị tha của cô gái trong bài thơ Hoa Chin-tal-le cũng là tình cảm, ý chí của người Hàn Quốc trước những thử thách, khó khăn trắc trở.
Cây lúa chiến thắng khí hậu khắc nghiệt, ngoại cảnh khó khăn để vươn lên xanh tốt là lời khẳng định chiến thắng, giành độc lập tự do của dân tộc: “Đá trên cánh đồng/ Lúa nước trong ruộng/ trở nên xanh tươi nhờ đất trời khắc nghiệt (Áo và cơm và tự do). Cây cỏ tưởng như úa vàng, chết héo, bị đốt cháy mất hết sự sống nhưng lại bừng lên sức trẻ tươi xanh khi mùa xuân đến: Lửa đang cháy trên đồi và bên suối/ Cỏ úa vàng trên mộ người ra đi…/ Xuân đã về, cùng ánh nắng sắc xuân (Cỏ vàng). Trong cuốn sách có đến hơn 10 bài thơ nhắc đến hình ảnh mùa xuân tươi đẹp, cho thấy thơ Kim So-wol không chỉ có tâm trạng bi thương mà vẫn bộc lộ nhiều ý tưởng lạc quan, tin vào tương lai xán lạn. Có những vần thơ tràn trề ánh sáng, niềm tin hy vọng: Hai chúng tôi lại cười lên tươi trẻ/ Vác cuốc xuống đồng, gió lộng cánh đồng xanh/ lúa thẳng hàng niềm vui sướng long lanh/ Ôi cuộc sống, ngày mỗi ngày xán lạn (Trên luống cày)…
Nội dung trữ tình và tư tưởng tác giả thể hiện qua 100 bài thơ trong cuốn sách đã được Tiến sĩ – dịch giả Lê Đăng Hoan cùng Giáo sư – nhà Việt Nam học Hàn Quốc Kim Gitae chuyển ngữ khá thành công, đảm bảo cả ba tiêu chí “Tín, Đạt, Nhã” theo nhà lý luận dịch thuật nổi tiếng Trung Quốc Nghiêm Phục (1854 – 1921) đưa ra, được giới dịch thuật của Việt Nam và quốc tế thừa nhận rộng rãi.
Hai dịch giả đã coi trọng tiêu chí “Tín” , trung thành với nguyên tác về ý nghĩa và cả về hình thức, thể loại thơ. Phần lớn các bài thơ dịch đã bám sát từng ý từng dòng của Kim So-wol. Điều dễ nhận thấy là số dòng, số đoạn, câu dài, câu ngắn của bài dịch so với bài nguyên tác khá tương đồng. Người dịch đã cố gắng giữ thể loại thơ mới tự do thời kỳ đầu của Hàn Quốc để người đọc Việt Nam cảm nhận được cái hay, cái lạ của văn hóa dân tộc và phong cách riêng của trào lưu thơ mới Hàn Quốc cũng như của riêng tác giả. Ngôn từ tiếng Việt trong thơ dịch đều mạch lạc, tự nhiên, thuần Việt, dễ hiểu, đảm bảo được tiêu chí “đạt” của dịch thuật.
Mặt khác, đi đôi với đảm bảo dịch đúng với nguyên tác, thơ dịch trong cuốn “Hoa Chin-tal-le” lại có những sáng tạo nhằm nâng cao trình độ nghệ thuật thơ dịch, phù hợp với thị hiếu thẩm mỹ thơ của người Việt Nam. Thể hiện rõ nhất về tiêu chí “Nhã” là dịch giả có khá nhiều bài thơ được lựa chọn dịch sang thể Lục bát, Song thất Lục bát, Ngũ ngôn, Thất ngôn rất quen thuộc, gần gũi với sở thích và tâm hồn của người đọc Việt Nam.
Đặc biệt, 100 bài thơ dịch trong cuốn sách có đến 21 bài đã được dịch sang thể Lục bát. Chúng ta đều biết, người Việt Nam từ khi còn nằm nôi đã được mẹ ru bằng ca dao, dân ca Lục bát; cả cuộc đời, tâm hồn luôn thấm đẫm những vần thơ trong tuyệt tác Truyện Kiều và biết bao bài thơ Lục bát hay của các thi sĩ nổi tiếng cổ kim. Vì vậy, những bài thơ trữ tình được chọn dịch sang thể Lục bát, trên cơ sở vẫn giữ được hồn cốt ý nghĩa nguyên tác, dễ được người đọc Việt Nam đón nhận, đi vào trái tim khối óc của người đọc. Điển hình là các bài Yêu và bạn, Ngày xưa mơ mộng, Ngắt cỏ, Chuyện xưa, Người đến trong mơ, Mai ngày, Lời hứa khắc tâm, Dù mặt trời lặn xuống đỉnh núi, cây liễu bạc, Cánh diều, Tâm hồn lãng quên…
Chúng ta hãy thử thưởng thức mấy câu thơ tình trong bài Ngày xưa mơ mộng được dịch sang thể Lục bát: Bên ngoài tuyết tuyết rơi rơi/ Ánh trăng bên cửa chơi vơi nhẹ nhàng/ Trong đêm em đến bàng hoàng/ Ôm nàng trong giấc mộng vàng hồn tôi/ Gối tôi đẫm nước mắt rơi/ Lẽ nào chỉ thế, em rời bỏ tôi… Những dòng thơ dịch sang Lục bát đó không những chuẩn chỉnh về vần luật, mà dịch giả còn khéo sử dụng những từ láy “tuyết tuyết”, “rơi rơi”, “chơi vơi”, “nhẹ nhàng”, “bàng hoàng” giàu nhạc điệu, rất hay.
Trong cuốn sách có 9 bài thơ được chọn dịch sang thể ngũ ngôn, nhịp điệu rất phù hợp với nội dung, tình cảm của bài thơ nguyên tác. Những bài thơ dịch Ngũ ngôn này cũng là sự sáng tạo đáng ghi nhận. Thơ dịch Ngũ ngôn trong cuốn sách thường không quá câu nệ niêm luật cổ, được hiện đại hóa ở mức độ nhất định, đọc lên luôn thanh thoát, uyển chuyển: Trước khi mùa xuân qua/ Trước khi hoa rụng khắp/ Người thương đến cùng ta/ Trước khi mặt trời tắt (Nhớ). Thơ dịch sang thể Thất ngôn trong cuốn sách ít hơn, nhưng cũng khá ấn tượng: Cái tuổi hai mươi cũng chóng tàn/ Đi về thế giới chốn hồng hoang/ Lang thang trên cánh đồng đêm vắng/ Nỗi nhớ thương đau lại chất tràn (Gửi người yêu).
Xin cám ơn Tiến sĩ dịch giả Lê Đăng Hoan, Giáo sư dịch giả Kim Gi-tae cùng Nhà xuất bản Hội Nhà văn đã giới thiệu với bạn đọc Việt Nam một tác phẩm thơ dịch có giá trị./.