TRẦN NHUẬN MINH
Xin thưa ngay là KHÔNG. Nhà Trần là một triều đại hiển hách nhất trong lịch sử Việt Nam, đã 3 lần đánh tan cuộc xâm lăng hung bạo của quân Nguyên Mông – đạo quân mạnh nhất thế giới ở thế kỷ XIII, nhận được sự ngưỡng mộ và quan tâm của toàn thể dân tộc Việt Nam từ xưa đến nay, không phân biệt ở địa phương nào. Vấn đề này rộ lên từ 2 bài báo của một tác giả trẻ, ông Phạm Học.
Bài thứ nhất trên báo Quảng Ninh điện tử ngày 09/10/2026: “Thái Miếu nhà Trần, Di sản văn hóa thế giới” (ghi tắt là Bài 1). Bài thứ hai trên báo Quảng Ninh Cuối tuần, số 1273 (1321) ra ngày 11/10/2026, trang 4: “Vùng đất quê gốc của nhà Trần” (ghi tắt là Bài 2). Tuy có vài đoạn hoàn toàn trùng nhau (và đều là những đoạn sai quan trọng nhất), có đoạn lại trái ngược hẳn nhau, nhưng mỗi bài nội dung mỗi khác, đều xoay quanh việc quê gốc nhà Trần là ở An Sinh, Đông Triều. Dĩ nhiên bài viết có một số nội dung tốt, nhưng trong bài viết này, tôi chỉ nói ngắn gọn những điều mà tôi thấy rõ là ông đã sai và vài điều khác mà tôi nghi là ông đã sai, để bạn đọc nhận ra vấn đề một cách chuẩn xác hơn về một vùng đất lịch sử thời Trần, nhất là khi Quảng Ninh được công nhận là thành phố trực thuộc Trung ương, lấy di sản làm biểu tượng, gọi là Thành phố Di sản.
1. Ông Phạm Học viết Đông Triều là “quê gốc của nhà Trần” (ở cả Bài 1 và Bài 2) là sai. Cái sai này, ông viết lại và phát triển thêm từ cái sai của vài người đi trước: “Cụ Trần Kinh ở An Sinh đi xa đánh bắt cá, thấy vùng ven biển ở lộ Thiên Trường…”.
Đại Việt sử ký toàn thư (ĐVSKTT) – bản ban đầu từ thời Trần, tiếp tục phát triển và hoàn thành ở thời Lê (Lê Thánh Tông, năm 1479), bộ chính sử sớm nhất và đáng tin cậy nhất của Việt Nam – tại tập II, Quyển V, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 1971, trang 5, nguyên văn ghi như sau:
“Vua họ Trần húy Cảnh… Đời trước của vua là người đất Mân (có người nói là người Quế Lâm), có người tên là Kinh đến ở hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường…”
Như vậy là từ đất Mân (Trung Quốc), Trần Kinh đến Tức Mặc, chứ không qua Đông Triều ở đấy đến 3 đời (?), và đặc biệt, Trần Kinh là đời thứ nhất, là Thủy tổ họ Trần, không phải là đời thứ 4 (tức là đã có 3 đời trước ở Đông Triều rồi từ Đông Triều mới đến Tức Mặc) như ông Phạm Học chép lại.
Tôi đã được mời dự một hội thảo hẹp khoảng 30 người ở Uông Bí, do Chủ tịch Hội Khoa học Lịch sử Việt Nam – GS. Phan Huy Lê và Bí thư Tỉnh ủy Quảng Ninh – Hà Văn Hiền chủ trì, trong đó có GS. Trần Quốc Vượng. GS. Phan Huy Lê kết luận: “Đông Triều không phải là quê gốc của nhà Trần”. Rồi sau đó, tôi xem Truyền hình và nghe trực tiếp GS. Phan Huy Lê nói trên VTV1 (Chương trình Thời sự), màn hình hiện lên dòng chữ: “Đông Triều không phải là quê gốc của nhà Trần”. Bây giờ, muốn tìm những tư liệu đã phát này ở Đài Truyền hình Việt Nam chắc cũng không khó gì. Như vậy, Đông Triều là quê thứ 3 của nhà Trần (sau Nam Định và Thái Bình), chỉ không phải là quê gốc mà thôi. (Gần đây, có người tìm thấy gia phả họ Trần cổ, theo đó tổ tiên vua người đất Mân, nay ở Phúc Kiến, Trung Quốc, đến định cư ở Kinh Bắc nhiều năm – ven bờ sông Thái Bình, thị xã Bắc Ninh cũ [cần tra xét minh chứng thêm?] rồi sau mới chuyển về vùng biển Tức Mặc). Trong Thái Miếu của nhà Trần ở Thái Bình, thờ Thủy tổ vẫn là Trần Kinh, đời thứ nhất ở Tức Mặc.
2. Ông Phạm Học viết (ở Bài 2): “Hầu hết lăng mộ các vua Trần đều được xây dựng và di chuyển về Đông Triều” là sai.
Trần Nghệ Tông chỉ di chuyển 4 lăng mộ vua Trần từ Thái Bình về Đông Triều, gồm các đời vua thứ 4 (Anh Tông), thứ 5 (Minh Tông), thứ 6 (Hiến Tông) và thứ 7 (Dụ Tông) mà thôi. Từ Nghệ Tông và 2 vua là con cháu của Nghệ Tông bị Nghệ Tông giết hại để dọn đường cho Hồ Quý Ly lên ngôi, lập một triều đại khác (có vua còn rất trẻ, có vua mới chỉ vài tuổi, do Hồ Quý Ly xui để đoạt quyền dần) thì không kể. Nghệ Tông chết năm 1395, sau 27 năm làm Thái thượng hoàng nhà Trần. Chỉ 5 năm sau (1400), nhà Hồ ra đời do Hồ Quý Ly làm vua, đặt tên nước là Đại Ngu, dìm chết 370 tôn thất và con cháu nhà Trần; nhiều người vớt xác lên, người nhà đi qua sợ liên lụy không dám nhận mặt như ĐVSKTT đã ghi.
Còn 7 lăng mộ quan trọng nhất của 4 vị khởi đầu và 3 vị vua đầu vẫn ở Thái Bình: Lăng Thủy tổ Trần Kinh, Thái tổ Trần Hấp, Nguyên tổ Trần Lý, Thái thượng Trần Thừa (đến đời Dụ Tông thì đổi miếu hiệu: Mục tổ Trần Kinh, Ninh tổ Trần Hấp, Trần Lý vẫn là Nguyên tổ, Trần Thừa là Thái tổ; miếu hiệu Thủy tổ để trống, tôi đoán là để tưởng nhớ thân phụ Trần Kinh ở đất Mân, Trung Quốc?) và vua đầu Thái Tông (Trần Cảnh); vua thứ 2 Thánh Tông (Trần Hoảng) và vua thứ 3 Nhân Tông (Trần Khâm). Các lăng mộ này vẫn ở Thái Bình – không chuyển về Đông Triều. Khi Nghệ Tông cho xây Thái Miếu ở Đông Triều thì cho xây luôn lăng 2 vị vua đầu (Thái Tông và Thánh Tông) chỉ có tính tượng trưng để thờ cúng cùng Thái Miếu cho tiện. Vậy 4 con cháu trên 7 tổ tiên thì không thể nói là “hầu hết”.
3. Ông Phạm Học giải thích việc chuyển lăng mộ các vua Trần (thực ra chỉ có 4 lăng mộ) từ Thái Bình về An Sinh, Đông Triều là vì đây là quê gốc tổ tiên nhà Trần và là cát địa (đất tốt).
Tôi không biết “cát địa” có đúng không, nhưng dù có là “cát địa” thật thì cũng không thể cứu vãn nổi nhà Trần: từ đời Dụ Tông đã sa đọa, đến đời Nghệ Tông đã tăm tối lú lẫn lại ở ngôi quá lâu, thế nước sụp đổ là không thể tránh khỏi. Thực ra, lý do chính để chuyển lăng mộ 4 vị hoàng đế này về Đông Triều là vì Nghệ Tông sợ quân Chiêm Thành giả làm dân đánh cá, đêm đến lẻn vào Thái Bình đào trộm mộ rồi đập phá như đã từng xảy ra. Vậy chuyển về đâu? An Sinh là tốt nhất vì đây là vùng núi, xung quanh lại có núi bao bọc, rất xa biển, quân Chiêm Thành không thể mò tới được; lại là nơi vua Nhân Tông đã đi tu rồi viên tịch, một phần xá lợi (trong hơn 3.000 hạt xá lợi) của vua Phật đã chôn cất ở đây cùng với Nam Định và Thái Bình. Chỉ có vậy thôi.
Còn tổ tiên họ Trần ở đây ư? Xin hãy nghe chính vua Trần Nhân Tông nói:
“Nhà ta vốn là người ở vùng hạ lưu (Thủy tổ quê ở Hiển Khánh), đời đời ưa chuộng hùng dũng, thường thích hình rồng vào đùi; nếp nhà theo nghề võ, nên thích xăm rồng vào đùi để tỏ là không quên gốc.”
Xăm hình rồng vào đùi để xuống nước, các loài thủy quái thấy đều hoảng sợ mà tránh xa (Chú thích ghi rõ: Hạ lưu, miền dưới, miền biển). Xin đọc ĐVSKTT, Nxb Khoa học xã hội, 1971, trang 86; Nxb Thời đại, 2013, tr. 329 – tuyệt đối chính xác như nhau. Như vậy, theo lời của chính vua Trần Nhân Tông – người tu và viên tịch ở Đông Triều, đã nói rõ từ lúc vua còn sống, Quốc sử cũng đã ghi rõ (như trên) là tổ tiên vua không ở miền cao, không ở miền núi (như An Sinh, Trại Lốc, Đông Triều hiện nay) mà “ở hạ lưu, ở miền dưới, miền biển”.
4. Có một căn cứ duy nhất ông Phạm Học đưa ra để chứng minh quê gốc nhà Trần ở miền cao, miền núi (trái ngược hoàn toàn với lời vua Trần Nhân Tông nói lúc vua còn sống đã ghi trong quốc sử từ thời Trần đến thời Lê năm 1479) là An Sinh, Đông Triều: ông lấy căn cứ từ Đại Nam nhất thống chí (ĐNNTC) – hoàn toàn không có cơ sở khoa học lịch sử.
Không hiểu sao câu ông dẫn ra từ ĐNNTC trong cả 2 bài, ý quan trọng nhất là ở 7 chữ đầu câu ông đều đã tự ý cắt bỏ: “Xét sử chép Kỷ Trần Anh Tông”.
Nguyên văn chữ ông trích (ở cả Bài 1 và Bài 2):
“ĐNNTC chép: ‘Bia thần đạo ở An Sinh nói rằng, tổ tiên nhà Trần vốn là người An Sinh, huyện Đông Triều, sau dời đến hương Tức Mặc, phủ Thiên Trường, cho nên các vua Trần đều táng ở Yên Sinh, mà khi người nhường ngôi xuất gia cũng lấy Yên Sinh làm nơi tu ẩn’.”
Thực ra nguyên văn ĐNNTC ghi có cả 7 chữ đầu câu: “Xét sử chép Kỷ Trần Anh Tông, bia thần đạo…”. Tôi đã đọc rất kỹ “Kỷ Trần Anh Tông” trong sử chép (ĐVSKTT) ở cả 2 bộ sách như nhau: bộ in sớm là ĐVSKTT tập II, Nxb Khoa học xã hội năm 1971 (từ trang 78 đến trang 114) và bộ sử in muộn là ĐVSKTT chữ to in 1 tập, Nxb Thời đại năm 2013 (từ trang 323 đến 349), tuyệt đối không có bất kỳ 1 chữ nào viết về điều ông đã nêu ra làm bằng chứng.
Lỗi không phải tại ĐNNTC, vì đây không phải sách lịch sử mà là sách thống kê tư liệu địa lý, viết riêng từng tỉnh (Đông Triều thuộc tỉnh Hải Dương, ở tập 3) lần lượt: khí hậu, phong tục, ruộng đất, núi sông, ghềnh bãi, chợ búa, cầu cống, đền miếu, lăng mộ, các giống trâu bò gà lợn, thổ sản, cây rừng, các loại tôm cá, cua cáy, các sản phẩm chè, rượu, muối, mắm tôm, mắm tép, thuốc lào… vân vân, đủ các hạng mục. Tham khảo thì được, nhưng lấy đó làm căn cứ lịch sử thì không được, vì nó không phải sách lịch sử.
Sách ĐNNTC của triều Nguyễn hoàn thành năm 1882, sau bộ chính sử ĐVSKTT đến 403 năm (1479). Độ lùi rất xa, sau đến hơn 400 năm, thì nếu có “tam sao thất bản” cũng là điều bình thường và việc “nói đi nói lại” trong học thuật cũng là điều bình thường. ĐNNTC còn ghi các vua Trần đều táng ở An Sinh: Trần Thái Tông, Trần Thánh Tông, Giản Định Đế đều táng ở đây… Sai 100%.
Khi Nghệ Tông cho xây Thái Miếu (biến An Sinh thành quê nhà Trần) thì ông cho xây luôn lăng Thái Tông và Thánh Tông như một biểu tượng mà thôi. Lăng 2 vị vua đầu triều này hiện vẫn ở Thái Bình. Còn Giản Định Đế (thời Hậu Trần chống đô hộ của giặc Minh) bị Trương Phụ – tướng giặc Minh bắt cùng với Thái bảo Trần Hi Cát đưa về giết ở Kim Lăng năm 1409, không biết cả hai chôn xác ở đâu bên Trung Quốc (ĐVSKTT, Nxb Thời đại năm 2013, trang 462). Lúc đó, Nghệ Tông chết đã 14 năm, nhà Trần mất đã 9 năm, nhà Hồ sụp đổ đã 2 năm, làm gì có chuyện táng Giản Định Đế ở Yên Sinh như ĐNNTC đã viết sai.
Như vậy, lăng mộ di chuyển về Đông Triều chỉ có 4 (Anh Tông, Minh Tông, Hiến Tông, Dụ Tông). Táng ở Đông Triều chỉ có 3 (Nghệ Tông và 2 con cháu của Nghệ Tông). ĐNNTC ghi các vua Trần mất đều táng ở An Sinh là sai. Ông Phạm Học đã sai khi dùng lại tư liệu đó.
Lại nói, Trần Liễu xây Tôn Miếu cho tổ tiên ở An Sinh như ông Phạm Học nêu ra là không có cơ sở. Năm 1237, Trần Liễu nổi loạn nhằm đoạt ngôi vua của em ruột là Trần Cảnh, Thái sư Trần Thủ Độ rút gươm chém nhưng Trần Cảnh che cho mà thoát chết. Phải đưa cả gia đình Trần Liễu ra xa kinh thành, về An Sinh huyện Giáp Sơn, châu Đông Triều (sau Giáp Sơn đổi thành Kinh Môn – cửa Kinh thành) để đề phòng bất trắc. Dù tên đất ở và tên tước vương là An Sinh với ý nhắc nhở là hãy sống cho yên ổn, Trần Liễu vẫn kiên quyết phục thù, tìm người giỏi võ nhất dạy cho Quốc Tuấn. Đến năm 1251, mới 40 tuổi Trần Liễu đã chết. Trước khi chết nói với Quốc Tuấn: “Con hãy vì cha mà lấy cả thiên hạ, nếu con làm được điều đó thì hãy vuốt mắt cho cha đi”. Quốc Tuấn tuy không lấy thế làm phải nhưng vẫn vuốt mắt cho cha đi… Quốc sử đã ghi rõ thế và cả nước đều đã biết thế, làm gì có chuyện Trần Liễu xây Tôn Miếu cổ vũ cho sự nghiệp làm vua của em trai.
Sách Lịch triều hiến chương loại chí (1821) của Phan Huy Chú ghi rõ: “An Sinh ở huyện Giáp Sơn, châu Đông Triều, nơi Trần Liễu sinh sống và chết thì táng ở đó, mộ hiện vẫn còn, chữ mờ nhưng vẫn đọc được”. Như vậy, Trần Liễu ở huyện Kinh Môn, châu Đông Triều, chứ không phải ở huyện Đông Triều như nhiều người đã nhầm.