Nam Định những ngày đầu hạ năm 2026, nắng không gắt gỏng mà dịu dàng như dải lụa vàng óng ả trải dài trên những con phố cũ. Đoàn văn nghệ sĩ và báo chí chúng tôi từ Hà Nội trở về nơi này, mang theo tâm thế của những kẻ đi tìm cái đẹp, tìm những giá trị ẩn mình trong dòng chảy xô bồ của đời sống hiện đại. Xe dừng lại trước số 45 Trần Nhân Tông, nơi Lưu Gia Trang hiện hữu như một ốc đảo xanh mướt, tách biệt hẳn với tiếng còi xe phố thị.
Vừa chạm chân qua cánh cổng, một luồng không khí trong lành, đượm mùi nhựa sống của cây lá ùa vào lồng ngực. Tôi ngỡ ngành nhận ra, Lưu Gia Trang không chỉ là một khu sinh thái như anh nhà báo cùng đoàn cứ kể suốt chuyến đi, mà là một tác phẩm nghệ thuật sắp đặt khổng lồ. Hệ thống cây cảnh nơi đây được tỉa tót cầu kỳ, nhịp nhàng như những nốt nhạc trên một bản giao hưởng xanh. Những tán cây tùng, duối, si, sanh được uốn nắn bởi bàn tay tài hoa của nghệ nhân, tạo nên vẻ uy nghi nhưng không mất đi nét mềm mại, tự nhiên. Và ngay bên trái chúng tôi, dòng sông Đào hiền hòa uốn lượn, mặt nước xanh trong vắt, khẽ xao động như sóng tóc của một người thiếu nữ đang thả mình trong gió hạ. Tôi đã chạy ngay ra bờ sông hóng gió, nhưng rồi lại dừng chân trước một nàng thiên nga đen trong hồ nước giữa khu Lưu Gia Trang, đang nghênh cổ nhìn tôi như chờ đợi điều gì mới mẻ…
Ở bên dòng sông đó, giữa khung cảnh mộng mơ, những nhành Osaka rủ xuống triền sông như những chùm đèn lồng vàng mềm mại rực rỡ. Sắc vàng ấy thắp sáng cả một góc trời, in bóng xuống lòng sông xanh, tạo nên một phối cảnh hài hòa đến ngỡ ngàng giữa lầu vọng cảnh, hoa lá và những pho tượng trầm mặc. Một nghệ sĩ trong đoàn đã phải thốt lên: “Thật là tiên cảnh giữa hạ giới!”. Cái tình của gia chủ với cỏ cây, hoa lá thấm đẫm trong từng lối nhỏ, từng phiến đá, khiến người ta cảm thấy tâm hồn mình như được gột rửa, thanh tao lạ thường.
Nhưng Lưu Gia Trang không chỉ níu chân lữ khách bởi sắc xanh của cây cỏ. Nơi đây còn là chốn lưu giữ những linh hồn của lịch sử, mà nổi bật nhất chính là hai báu vật vô giá. Bước vào không gian trưng bày cổ vật, chúng tôi như lạc bước vào một bảo tàng ký ức. Báu vật thứ nhất hiện ra, uy nghi và bí ẩn: Bộ Long Sàng có tuổi đời hơn 200 năm.

Long sàng ấy mang trong mình một hành trình thiên lý đầy ly kỳ. Từng thuộc sở hữu của hoàng gia Trung Hoa, nhưng qua biến cố lịch sử, nó đã đi qua những cung điện xa hoa ở Đan Mạch, rồi sang Pháp, lưu lạc qua biết bao thăng trầm của các triều đại trước khi cập bến Việt Nam. Dưới nhãn quan của những chuyên gia cổ vật, dù được nhập về từ Pháp, nhưng những đường nét chạm khắc tinh xảo, những mô-típ hoa văn rồng phượng lại mang đậm hơi thở của văn hóa hoàng gia phương Đông, nhiều khả năng có xuất xứ từ Trung Hoa đại lục.
Cơ duyên đưa báu vật này về với đất Thành Nam lại bắt đầu từ một trái tim say mê cái đẹp của chị Trần Thị Thoa, Giám đốc và là người kiến tạo nên Lưu Gia Trang. Nhờ sự giúp đỡ của một người bạn thân tại Pháp, chị đã tìm thấy “viên ngọc quý” này giữa bộn bề những cổ vật lưu lạc. Để giờ đây, chiếc Long Sàng không còn cô đơn nơi viễn xứ, mà đã tìm thấy báu vật tri kỷ trong không gian đậm chất Việt, tiếp tục kể câu chuyện về sự giao thoa văn hóa Đông – Tây qua hai thế kỷ.
Nếu chiếc Long Sàng mang vẻ đẹp sang trọng, đài các của cung đình, thì báu vật thứ hai lại đưa chúng tôi đến với một chiều kích khác của xúc cảm: Sự hoang dã, quyền uy và mãnh liệt. Đó là Bộ Vương Tọa của Tộc trưởng bộ tộc Zulu – một huyền thoại đến từ vùng đất Nam Phi xa xôi.
Bộ bàn ghế này là biểu tượng tối cao của một nền văn minh cổ xưa. Được chế tác từ 27 bộ sừng và da bò tót – những linh vật của sức mạnh – bộ ghế toát lên một vẻ uy nghiêm khiến người đối diện phải nín thở. Từng chiếc sừng được tuyển chọn gắt gao từ hàng trăm bộ sừng quý hiếm, qua bàn tay của các nghệ nhân bộ tộc Zulu, đã trở thành những chứng nhân lịch sử, lưu giữ tinh thần bất khuất của một bộ tộc chiến binh.

Ngắm nhìn “Vương Tọa”, ta như thấy lại hình ảnh vị Tộc trưởng oai phong đang điều hành bộ tộc. Cạnh đó là chiếc ghế “Mẫu Nghi Tộc” dành cho Hoàng hậu, với những đường nét mềm mại hơn nhưng vẫn không kém phần cao quý, thể hiện sự tôn kính sâu sắc đối với người phụ nữ giữ lửa cho gia đình và cộng đồng. Hai chiếc ghế “Tả Hữu Trụ Cột” dành cho đại thần và chiếc “Trường Kỷ Quần Thần” (Bàn Định
Luật) nơi các bô lão bàn bạc chính sự, tất cả tạo nên một chỉnh thể hoàn hảo về quyền lực và trật tự xã hội của người Zulu cổ.
Hai báu vật từ hai vùng đất, hai nền văn hóa khác biệt hoàn toàn nhưng khi được về với Lưu Gia Trang, chúng lại tạo nên một sự cộng hưởng kỳ lạ. Đó là sự kết nối giữa con người với lịch sử, giữa cái tôi cá nhân với di sản nhân loại. Đó cũng là điểm nhấn khác biệt của Lưu Gia Trang, thu hút khách đến với nơi này chiêm ngưỡng.
Khi nắng chiều đã ngả sang màu mật đào, chúng tôi rời Lưu Gia Trang trong niềm luyến tiếc khôn nguôi. Những báu vật ấy không chỉ là niềm tự hào của gia chủ, mà đã trở thành một phần hồn cốt của mảnh đất Nam Định này. Lưu Gia Trang, với lòng hiếu khách và tâm huyết của người kiến tạo, đã thực sự trở thành một “trạm dừng chân” của tâm hồn, nơi thời gian như ngừng lại để nhường chỗ cho những giá trị nhân văn và nghệ thuật lên tiếng.
Chúng tôi đi rồi, nhưng hình ảnh những chùm hoa Osaka vàng rực triền sông và vẻ uy nghi của những báu vật thế kỷ sẽ còn mãi trong tâm trí, như một lời nhắc nhở về việc gìn giữ và trân trọng những tinh hoa mà cha ông và nhân loại đã để lại. Riêng tôi, tự thầm hứa sẽ còn nhiều lần trở lại nơi này, để tiếp tục chạm tay vào báu vật, tận hưởng vẻ đẹp mà con người bắt tay cùng thiên nhiên tạo tác, dâng hiến cho cộng đồng.
I.B