Tác giả: Christine Chen (New Zealand)
(Tường San chuyển ngữ từ bản tiếng Anh)
Truyện kí
Phần một: Thời thơ ấu
Thay áo mới
Lời đề từ
“Nếu ký ức có mùi hương, đó sẽ là mùi hương của băng phiến — ngọt ngào và an tâm, như những niềm vui được nhớ lại rõ ràng; ngọt ngào nhưng luyến tiếc, như những nỗi đau đã lãng quên.”
– Trương Ái Linh
Mỗi năm, khi đổi mùa, luôn có những bộ quần áo bị loại bỏ – có bộ vẫn còn mới tinh, chưa từng xé mác. May mắn thay, New Zealand rất coi trọng sự tiết kiệm: các trung tâm tái chế đồ cũ có mặt ở khắp mọi nơi. Các trường học cũng tổ chức các ngày gây quỹ hàng năm, nhận quần áo quyên góp để bán từ thiện, toàn bộ số tiền thu được sẽ dành cho giáo dục. Vì vậy, khi tôi trao đi hết túi quần áo này đến túi khác, có một chút tiếc nuối, nhưng không thực sự đau lòng.
Nhìn những bộ trang phục cũ ấy, tôi không khỏi nhớ về bà ngoại – người đã nuôi nấng tôi từ thuở nhỏ. Nếu bà còn sống đến ngày nay để chứng kiến sự dư dả này, hẳn bà sẽ thấy an lòng biết mấy.
Trong những năm tháng tôi sống cùng bà, điều kiện vật chất vô cùng khan hiếm. Tết là lúc trẻ con mong đợi nhất, vì đó là dịp có quần áo mới và giày mới. Đó cũng là lúc có những món ăn ngon và bánh kẹo vốn chỉ xuất hiện vào thời điểm đó trong năm. Dù kinh tế gia đình có eo hẹp đến đâu, trẻ con vẫn phải khoác lên mình bộ đồ tươm tất để đi thăm họ hàng và chúc Tết – người ta không thể để mình trông bất lịch sự.
Khi đó tôi còn rất nhỏ. Tôi chỉ nhớ rằng trong những ngày lễ, họ hàng đến và đi như những dòng chảy bất tận – các bà dì, ông chú, những người anh em họ xa đủ kiểu. Mỗi chuyến viếng thăm đều mang theo đồ tiếp tế ngày Tết: bánh chưng, bánh trôi, bánh hấp, cá muối, thịt khô. Họ hàng từ dưới quê mang theo rau tự trồng và gà tự nuôi. Bà ngoại tôi bận rộn không ngơi nghỉ – vừa làm gà, nấu nướng trong bếp, vừa chuẩn bị những món quà hào phóng cho mọi người khách đến thăm. Và không chỉ có vậy. Bà sẽ gom quần áo của anh trai và tôi lại, xếp gọn gàng rồi tặng cho những đứa trẻ đến từ các làng quê nghèo.
Tôi nhớ nhất một lần: bà đã đem cho chiếc váy lụa hoa nhỏ mà tôi yêu thích nhất. Lúc đó tôi chắc khoảng bốn tuổi. Tôi đã khóc lóc và gào thét suốt một ngày một đêm, nhất quyết không đi ngủ, thậm chí còn đưa ra lời “tuyên chiến” dữ dội: “Ai đem quần áo của con cho người khác mà không xin phép – con sẽ không bao giờ tha thứ!”
Những chiếc váy đó do chính tay mẹ tôi may khi bà đang làm việc ở tận một tỉnh xa. Mỗi khi đi họp, bà lại mua lụa đẹp ở Tô Châu hoặc Hàng Châu, tìm những kiểu mốt mới nhất, rồi tỉ mẩn khâu tay từng đường kim mũi chỉ. Mẹ tôi là một thợ may bậc thầy, một người có bản năng thiết kế thiên bẩm. Bất kể thứ gì đang thịnh hành, đôi tay bà đều có thể làm ra được. Mỗi khi tôi mặc chiếc váy mới mẹ gửi về, các bạn tôi đều nhìn tôi với ánh mắt đầy ngưỡng mộ.
Thực tình, tôi chẳng mấy nhớ được khuôn mặt mẹ. Khi tôi tròn một tuổi, tôi được gửi về nhà ông bà ngoại ở miền Nam và sống với họ cho đến khi vào tiểu học mới được đoàn tụ với mẹ. Khi lớp vải mềm mại chạm vào da thịt, tôi thường tự hỏi: Bàn tay của mẹ tôi liệu có dịu dàng như thế này không?
Quần áo đã trở thành sợi dây liên kết thầm lặng giữa mẹ và tôi.
Giờ đây nhìn lại, tôi hiểu được sự bất lực của bà ngoại. Bà vốn có bản tính nhân hậu. Nhìn những đứa trẻ trong dòng họ mặc bộ đồ vá chằng vá đụp rách nát, bà không cầm lòng được. Thế là bà đành “dứt ruột” lấy những báu vật của đứa cháu yêu quý để chia sẻ cho người khác.
Người thời đó coi trọng tình thân sâu sắc. Khi họ hàng gặp khó khăn, sự giúp đỡ được trao đi như một bản năng, như thể đó là lẽ tự nhiên. Tôi nhớ trong nhiều năm, họ hàng đã ở lại nhà chúng tôi – có khi ba đến năm tháng, có khi ba đến năm năm. Thường là những đứa trẻ bằng tuổi tôi. Thời đó chưa có khái niệm mẫu giáo bắt buộc. Đám trẻ chúng tôi rong đuổi ngoài phố ban ngày và về nhà ăn cơm vào buổi tối. Bà ngoại giặt giũ và luân chuyển quần áo của tôi cho chúng mặc. Theo thời gian, tôi trở nên cảnh giác và lén giấu những chiếc váy mình thích nhất đi, sợ rằng chúng lại bị đem chia sẻ mất.
Thời đó, quần áo hoàn thành mục đích cơ bản nhất của nó: để che thân, để giữ ấm. Nhưng nó cũng chở nặng tình thân và tình mẫu tử, nuôi dưỡng huyết thống và mối bang giao cảm xúc của một gia tộc – nặng chữ nghĩa, sâu chữ tình.
Giờ đây, hơn hai mươi năm sau khi vượt biển, sau vô số lần chuyển nhà, có một vật dụng luôn đồng hành cùng tôi: một chiếc vali mây nhỏ. Mẹ đã dùng nó để xếp quần áo cho tôi khi tôi lần đầu ra nước ngoài. Chiếc vali đó đã theo bà nửa cuộc đời, đi từ huyện này sang huyện khác; nó từng thuộc về người thiếu nữ là bà khi xưa rời nhà lên thủ phủ của tỉnh để học tập. Chiếc hộp đơn sơ và nhẹ tênh. Mỗi khi mở nó ra, một mùi hương băng phiến thoang thoảng bay ra, đưa tôi trở về thời điểm mà cả mẹ và bà ngoại đều còn sống – thời điểm mà tình yêu được nói bằng ngôn ngữ của những tấm áo.
Giấc mơ
Vào Tết Trung thu năm tôi lên sáu, tôi đã gặp một người kỳ lạ.
Theo phong tục cổ truyền của Trung Hoa tại địa phương, lũ trẻ thường đi quanh các con phố và ngõ nhỏ, gõ cửa từng nhà để xin kẹo. Nếu nhà nào không có gì, chúng sẽ không rời đi cho đến khi chủ nhà đưa cho ít nhất nửa quả táo tầu hoặc một miếng trái cây. Chả trách bà ngoại tôi vừa cười vừa mắng tôi và lũ bạn: “Cái lũ tiểu quỷ phá phách này, đến ma cũng phải sợ các cháu!”
Đêm đó, khi chúng tôi đến con hẻm cụt hẻo lánh nhất trong khu phố, một chuyện lạ đã xảy ra.
Góc tối tăm và hoang vắng thường ngày giờ đây bỗng bừng sáng. Có nhiều lời đồn thổi về con hẻm này. Người ta kể rằng một ông già mù có lưng gù, không còn chiếc răng nào từng sống ở đây và có thể nuốt chửng ếch và chuột sống. Lũ trẻ chúng tôi rất khiếp sợ những lời đồn này và luôn tránh xa con hẻm.
Nhưng lúc này, một khoảng sân nhỏ nhắn, trắng như tuyết, gọn gàng với những chiếc đèn lồng đỏ treo khắp nơi bỗng hiện ra cuối hẻm, và một ông lão đứng đó mỉm cười. Lũ trẻ chạy ùa tới, ông lão lấy ra một túi lớn hạt bí ngô. Những hạt bí vàng óng, to như hạt dẻ, tỏa hương thơm nồng nàn. Lũ trẻ vừa ngạc nhiên vừa thích thú, bắt đầu ăn ngon lành. “Đây không phải thứ bình thường đâu. Ai ăn nó sẽ có những giấc mơ,” ông lão thì thầm với chúng tôi.
Đêm đó, tôi đã mơ một giấc mơ. Trong giấc mơ, tôi bay xuyên qua những tầng mây, vượt qua núi non và hồ nước, băng qua sa mạc, đồng bằng, những đồng cỏ và những đàn bò, đàn cừu. Tôi đã biến thành một nàng tiên.
Sáng hôm sau, khi bình minh vừa hé rạng, tôi dắt đám bạn chạy trở lại con hẻm tối. Chỉ có một khoảng sân đổ nát nằm chênh vênh, gạch vụn và cỏ dại mọc đầy. Không có dấu vết nào của sự sống con người.
Bà ngoại tôi nói rằng từ lâu đã không có ai sống ở con hẻm đó. Ông lão từng sống ở đó vốn là một giáo sư, ông bị dán nhãn là “kẻ thù giai cấp” trong thời Cách mạng Văn hóa, bị ép đội mũ cao đi diễu phố và phải làm công việc dọn dẹp nhà vệ sinh công cộng. Sự nhục nhã quá lớn khiến ông không thể chịu đựng nổi, cuối cùng ông đã tự sát. Hàng xóm láng giềng đều tránh xa con hẻm vì sợ hãi.
Khi tôi lớn lên, bước chân tôi đã đi xa và rộng khắp đúng như giấc mơ đã chỉ lối. Cuối cùng, tôi định cư tại một quốc đảo ở Nam Thái Bình Dương, nơi có đường bờ biển dài tít tắp và những đồng cỏ xanh mướt với bò và cừu. Những đám mây trắng lững lờ trôi trên bầu trời, và đường chân trời bao la, xa xăm, tựa như thiên đường nơi hạ giới. Trẻ em địa phương ở đây cũng có phong tục đi từng nhà xin kẹo vào lễ Halloween, và người ta thường thắp đèn lồng trong sân, đặt những túi hạt bí thơm lừng vào trong giỏ quà bánh.
Phần hai: Thời thanh xuân
Biên niên sử của vẻ rạng rỡ xanh tươi
Ngày ấy tôi còn trẻ – tràn đầy mơ mộng và khao khát khám phá thế giới. Với một chiếc ba lô đơn giản trên vai, tôi lên đường cùng một nhóm thanh niên cũng đầy tò mò đến từ châu Âu và Mỹ, hướng về Việt Nam, Lào và Campuchia – những nơi tôi đã thấy vô số lần qua phim ảnh.
Vào giữa những năm 1990, đây là một hành trình mang tính kỳ tích, nhuốm chút màu sắc anh hùng. Đối với người phương Tây, Việt Nam khi đó vừa mới mở cửa trở lại sau chiến tranh. Trong chuyến đi, chúng tôi không có nhiều tiền – đây là kiểu du lịch tiết kiệm mà chúng tôi có thể chi trả được.
Chúng tôi sống kham khổ, ngủ bất cứ nơi nào có thể. Chúng tôi ở trong các nhà trọ thanh niên; đôi khi hơn hai mươi người chia nhau một không gian giường tầng, vì giá chỉ có hai đô la Mỹ một đêm. Chúng tôi túm tụm lại để sưởi ấm cho nhau, đi du lịch kiểu Tây ba lô – rẻ tiền, tính cộng đồng cao và vô ưu vô phiền.
Điểm dừng chân đầu tiên: Việt Nam.
Việt Nam là nước mở cửa sớm nhất. Dấu vết của thời kỳ thuộc địa Pháp vẫn còn hiện hữu khắp nơi. Trên những con phố ở Hà Nội, hương cà phê đen địa phương thoang thoảng trong không trung; những chiếc bánh mì Pháp kẹp thịt nướng và rau trộn khiến chúng tôi cảm thấy như đang ở một Paris thu nhỏ. Có một thành phố vườn trăng mật trên núi mang tên Đà Lạt – khí hậu mát mẻ, dãy phố xoay quanh một hồ nước, điểm xuyết những biệt thự kiểu Pháp. Hoa cỏ và cây cối ôm lấy những sườn đồi, tiếng chim hót vang khắp nơi. Trong một khu vườn của thành phố có đặt bức tượng của người thiết kế thị trấn: một cựu binh New Zealand từng tham gia chiến tranh Việt Nam, người đã quy hoạch thành phố theo phong cách vườn tược New Zealand. Đối với một người đến từ New Zealand như tôi, điều đó thật kinh ngạc -giống như bắt gặp dấu tích nhân loại trên sao Hỏa vậy.
Cảm nhận thực sự đầu tiên của tôi về những vết sẹo chiến tranh là tại Bảo tàng Chứng tích Chiến tranh. Những bức ảnh cũ ghi lại sự tàn khốc giữa Việt Nam và Pháp -những đống xác người chất cao như núi, những cảnh tượng kinh hoàng không thể chịu đựng nổi. Sau đó, tại đồng bằng sông Cửu Long, chúng tôi đến thăm những ngôi làng thời chiến được phục dựng: những cái bẫy tinh vi, vũ khí làm từ chông tre, dây thừng, nước độc – không thứ gì là không được tận dụng.
Trong sự trẻ trung và ngây thơ của mình, chúng tôi chợt hiểu ra câu nói “mỗi vùng đất, mỗi con người”. Giống như loài vật, khi đối mặt với kẻ thù xâm lược, con người sẽ phát triển những phương pháp phòng thủ độc đáo của riêng mình để bảo vệ tổ ấm.
Chúng tôi tiếp tục chui qua địa đạo Củ Chi. Những người phương Tây cao lớn, vai rộng đơn giản là không thể xoay xở nổi – nhiều người đã bỏ cuộc giữa chừng. Đó là lần đầu tiên chúng tôi cố gắng hiểu cuộc chiến tranh Việt Nam từ góc nhìn của người Việt. Bỗng nhiên, mọi thứ trở nên hợp lý: tại sao người Mỹ không bao giờ có thể giành chiến thắng.
Trong bảy ngày cuối cùng, chúng tôi cưỡi mô tô đi từ Nam ra Bắc, vòng quanh đất nước hình chữ S dài và hẹp. Những vườn hồng, những cánh đồng nho, cảnh biển ngoạn mục của Vịnh Hạ Long với hàng ngàn hòn đảo; những bát phở thơm lừng; tà áo dài duyên dáng của phụ nữ Việt Nam – thế nhưng không gì trong số đó có thể xua tan hoàn toàn bóng tối mà chiến tranh đã để lại trong lòng chúng tôi.
Là một tâm hồn văn chương trẻ tuổi, tôi mang theo một tâm nguyện nhỏ của riêng mình: lần theo dấu chân của nữ văn sĩ Pháp Marguerite Duras, tác giả cuốn “Người tình”. Tôi dán mắt tìm kiếm những tòa nhà cũ màu vàng dọc theo sông Sài Gòn. Cuối cùng, bên một nhánh sông hẻo lánh, tại một bưu điện, tôi dường như thoáng thấy khung cảnh nơi Duras từng gặp người tình của bà. Con hẻm yên tĩnh; ánh sáng lốm đốm xuyên qua kẽ lá; tiếng ve kêu ran. Thỉnh thoảng, một chiếc xe đạp đi ngang qua, người lái đội chiếc nón lá tròn. Không khí mang theo mùi nem rán Việt Nam quyện với các loại rau thơm tươi mát. Tôi không biết đây có phải là Sài Gòn mà Duras đã mô tả hay không. Tôi chỉ nhớ lần đầu đọc “Người tình” năm mười bốn tuổi – nó đã khiến tôi chấn động thế nào. Nhân vật nữ chính của bà khi đó cũng là một cô gái mười bốn tuổi đang độ xuân thì. Có lẽ có một sự đồng điệu giữa những trái tim tuổi trẻ. Ở đâu đó sâu thẳm, tôi đang tìm kiếm bà – tìm kiếm cảnh giới nội tâm của nhà văn hiện đại Pháp độc đáo này.
Cuối cùng, tôi đã ở đó. Trái tim tôi đã được bình yên.
Hành trình vẫn tiếp tục. Những khoảnh khắc phi thường nhất vẫn còn ở phía trước.
Vẻ rạng rỡ
Khi lần đầu ra nước ngoài, tôi còn rất trẻ.
Ngay khoảnh khắc tiết kiệm đủ tiền mua vé máy bay, tôi đã không thể chờ đợi thêm để lên đường. Những nhà trọ thanh niên giá rẻ trở thành lựa chọn tự nhiên. Từ khắp nơi trên thế giới, chúng tôi tìm đến – cùng thiếu tiền, cùng tò mò – thường đi thành từng nhóm nhỏ ba đến năm người, vừa đi vừa hát.
Ban ngày, người đi lặn, người đi bộ đường dài hoặc leo núi. Ban đêm, chúng tôi chia sẻ những bài viết hay và những câu chuyện hài hước, uống rượu và trò chuyện, chơi cờ, bài bridge và các trò chơi trẻ trung, trao đổi những cuốn sách và đĩa nhạc phổ biến. Tôi thường im lặng lắng nghe, giống như những bạn trẻ đến từ Nhật Bản và Hàn Quốc.
Trong một trò chơi, tôi đi thẳng từ trường này sang trường khác – một “học sinh giỏi” kiểu mẫu trong sách giáo khoa. Trò chơi không phải là thế mạnh của tôi. Khi nói đến chuyện “chơi”, trẻ em Trung Quốc không phải là đối thủ của thanh niên Âu Mỹ.
Về leo núi, ngoài việc đi bộ đường dài và leo núi thông thường, thậm chí là leo núi nhiều ngày, họ còn yêu thích leo núi đá. Những người du lịch ba lô này mang theo thiết bị riêng – dây thừng, đinh móc, móc sắt – xuất hiện trên những vách đá dựng đứng, những đỉnh núi tuyết, những dòng sông băng giá lạnh. Càng nguy hiểm, họ càng trở nên phấn khích.
Trên mặt nước lại càng có nhiều trò vui hơn. Trượt nước, lướt sóng và lướt ván là chuyện thường tình; hầu như ai cũng là một thợ lặn lành nghề. Một số thích lặn sâu với bình dưỡng khí, số khác thích sự đơn giản của lặn ống thở. Tôi không biết bơi, nên chỉ có thể nhìn đại dương với sự ngưỡng mộ. Những lúc đó, tôi sẽ nhẹ nhàng đưa những con sao biển từ bãi cát trở lại biển cả, hoặc ngắm nhìn những rạn san hô sống động dưới làn nước trong vắt – đang nở ra và khép lại, đung đưa duyên dáng, một cảnh tượng mê hoặc lòng người.
Thỉnh thoảng, có những người chẳng làm gì cả, chỉ đơn giản là tắm nắng trên bãi biển. Một số là những tay ba lô “lão luyện” đã đi du lịch hàng tháng hoặc thậm chí hàng năm trời. Họ ngắm thời gian trôi một cách lặng lẽ, không còn ngạc nhiên trước phong cảnh, đã thử qua mọi hoạt động. Những người khác đến chỉ để không làm gì cả. Chưa đầy ba mươi tuổi, một số đã hói đầu hoặc tóc bạc. Nhiều người từng giữ những vị trí quan trọng – kỹ sư hệ thống, quản lý dự án, luật sư – xử lý các vụ việc lớn nhỏ. Không ngoại lệ, họ than thở rằng tuổi trẻ qua đi quá nhanh và áp lực đã đè nặng thế nào. Khá nhiều người đã từ chức, chỉ tìm kiếm một không gian yên tĩnh để “suy ngẫm” về cuộc đời. Tôi thầm giật mình khi thấy những người tưởng chừng như “thành đạt” này lại đang sống trong sự bất ổn nội tâm đến vậy.
Lần đầu tiên, niềm tin của tôi vào lý tưởng truyền thống “an cư, lạc nghiệp và thành đạt” bắt đầu lung lay.
Khi đi du lịch ở các quốc đảo Nam Thái Bình Dương, tôi cũng gặp một nhóm “người lang thang” đặc biệt: những thủy thủ. Với một cánh buồm duy nhất, họ lênh đênh trên biển hàng tháng, hàng năm, di chuyển giữa những hòn đảo có người và không người ở – vượt qua bão tố, đếm sao, ngắm trăng, sống cùng cá voi và rùa biển. Cháy nắng và dầm mưa, làn da họ sạm đi, nhưng không ngoại lệ, họ đều vui vẻ, hạnh phúc hơn nhiều so với những “người thành đạt trong sự nghiệp”. Họ trân trọng mọi cuộc gặp gỡ với đồng loại, hăng hái kéo chúng tôi vào những cuộc nhậu và trò chuyện, kể lại những câu chuyện kỳ lạ và kỳ diệu về cuộc sống trên biển.
Sau này trong đời, tôi tiếp tục đi du lịch thường xuyên. Đôi khi tôi ở trong những khách sạn tiện nghi, hoặc mua các gói tour trọn gói – vận chuyển, lưu trú, lịch trình được sắp xếp sẵn, những đêm nghỉ tại khách sạn gắn sao. Thế nhưng, sự chấn động và ngạc nhiên của những chuyến đi thời trẻ đó đã biến mất. Tôi thậm chí đã quay lại những điểm đến cũ, chỉ để thấy rằng những nơi từng rực rỡ thực chất chỉ là những bãi biển bình thường. Thế giới đã thay đổi – và tôi cũng vậy. Cùng một cảnh sắc, nhưng là một cái tôi khác.
Trương Ái Linh từng nói: Làm giàu phải sớm.
Tôi nói: Đi du lịch phải đi sớm.
Hãy đi du lịch khi bạn còn đang ở độ tuổi sung sức nhất, khi bạn còn thuần khiết và nồng nhiệt – và hãy viết, một cách phóng khoáng, về vẻ rạng rỡ huy hoàng của cuộc đời bạn.
Phần ba: Những năm tháng chín muồi
Những thứ không già đi
Tôi có một niềm yêu thích đặc biệt với việc đọc hồi ký của các nữ văn sĩ.
Chẳng hạn như cuốn “Người tình” của nhà văn hiện đại Pháp Marguerite Duras; “Châu Phi nghìn trùng” của nhà văn Đan Mạch Karen Blixen; và nhà văn Mỹ Schuetrasman, người có tác phẩm được chuyển thể thành phim “Titanic”.
Lẽ tự nhiên, hồi ký của họ không thể tách rời khỏi những tác phẩm nổi tiếng này và bối cảnh lịch sử mà các câu chuyện diễn ra. Quan trọng hơn, chúng chứa đựng những suy ngẫm về cuộc đời vốn không có trong chính những cuốn sách – những hiểu biết được chắt lọc bởi thời gian, tỏa ra một hương thơm dịu nhẹ, vấn vương.
Trong hồi ký của mình, Duras kể lại rằng sau đúng bốn mươi năm, bà tình cờ gặp lại người tình cũ ở Sài Gòn tại một ga tàu ở Paris. Ông nhận ra bà ngay lập tức và gọi tên bà, trong khi bà nhìn chằm chằm vào người đàn ông lớn tuổi trước mặt, hoàn toàn ngơ ngác. Xúc động mạnh, ông nói năng không rành mạch, bảo rằng ông đã tìm kiếm bà suốt cả cuộc đời. Chỉ dần dần, qua nét mặt và cách nói chuyện, bà mới nhận ra cái bóng của người đàn ông năm xưa. Ông luyên thuyên về những năm tháng kể từ khi họ chia tay: ông đã không bao giờ có thể quên bà, những ký ức đã dày vò ông như thế nào, mặc dù ông đã sớm có được giàu sang và địa vị, con cái đề huề và đã định cư tại Paris từ lâu. Ngược lại, bà thẳng thắn thừa nhận rằng mình đã quên ông từ lâu. “Mối tình” tuổi trẻ của họ (nếu người ta nhất quyết gọi đó là mối tình đầu của bà) đối với bà, giống như một vấn đề sinh tồn hơn – đổi lấy sự rực rỡ của tuổi trẻ để lấy sự bảo đảm về vật chất; nói một cách thẳng thắn thì không khác biệt về bản chất so với việc bán dâm.
Cuộc gặp gỡ khiến Duras bất an trong một thời gian dài. Bà chưa bao giờ tưởng tượng rằng một giao dịch tuổi trẻ bị thúc đẩy bởi khao khát tiện nghi vật chất lại có thể để lại một vết sẹo vĩnh viễn cho một người khác. Khi tiến gần đến tuổi sáu mươi, cuối cùng bà mới cảm nhận được, từng chút một, thực tế của tình yêu đó – chính xác, thấu đáo, thấm vào tận tủy xương. Bà cầm bút viết xuống ký ức đã úa vàng này, mỗi dòng chữ đều thấm đẫm sự chiêm nghiệm, vẻ đẹp và cảm xúc sâu sắc.
Người ta không khỏi tự hỏi: nếu Duras viết câu chuyện này sớm hơn hai mươi hay ba mươi năm, trong cái nóng hầm hập của tuổi trẻ, nó sẽ mang tông giọng nào? Một câu chuyện về sự sa ngã – hay chiều sâu nhức nhối, khó quên như chúng ta đọc ngày nay?
Dù thế nào đi nữa, cuốn “Người tình” được viết bởi một Duras đầy nếp nhăn vẫn thật phi thường với những khung cảnh của nó: văn phong tỉ mỉ của bà không bỏ sót điều gì – không một tia nắng Sài Gòn, không một chút mùi hương, không một tiếng rao trên đường phố. Xuyên suốt cuốn sách, bà tránh những “chi tiết” thông thường về sự gần gũi riêng tư giữa nam và nữ. Thay vào đó, thời gian đóng vai trò như một chiếc sàng, lọc bỏ lớp bụi bặm và để lại những gì không thể xóa nhòa trong sâu thẳm ký ức: tình yêu tinh tế, dịu dàng của người tình. Nó vượt qua thời gian và không gian, đến thật chậm, lan tỏa như nước, dâng lên thành sóng, vỗ vào bờ.
Các tác phẩm kinh điển trở thành kinh điển vì chúng chứa đựng thứ gì đó có thể chịu được thử thách của thời gian. Và để biết thứ đó là gì, chỉ có thời gian mới có tư cách lên tiếng.
Duras từng nói: “Nếu tôi không trở thành một nhà văn, tôi đã trở thành một kỹ nữ.” Có lẽ đây là bản tóm tắt thấu tận xương tủy nhất về tuổi trẻ và cuộc đời sau này của bà. Chỉ một nhà văn – đặc biệt là một nữ văn sĩ – người đã thực sự sống, thực sự thức tỉnh, mới dám thốt lên những lời như vậy. Cây bút của bà giống như một con dao, tạc nên chân dung của chính mình với một sự chính xác đến tàn nhẫn.
Thời gian hối thúc chúng ta về phía tuổi già, thế nhưng có những thứ không hề già đi – đó là tình yêu, tài năng và chính những tác phẩm kinh điển.
Vài nét về tác giả Christine Chen
Christine Chen là một nhà văn, nhà thơ, dịch giả và biên tập viên người New Zealand gốc Trung Quốc. Bà là chủ nhân của giải thưởng Ossi di Seppia lần thứ 30 tại Ý (2023) và giải thưởng Nhà thơ Xuất sắc tại Liên hoan Thơ Quốc tế Sydney năm 2025.
Các tác phẩm của bà đã được dịch sang hơn 20 ngôn ngữ và được lưu trữ tại nhiều thư viện hàng đầu trên thế giới. Bà từng đại diện cho Châu Đại Dương tham dự Liên hoan Thơ Quốc tế Medellín năm 2024. Hiện tại, bà đang đảm nhiệm vai trò Điều phối viên khu vực Châu Đại Dương của Phong trào Thơ thế giới (WPM) và Tổng biên tập tờ Compact News tại New York.