Tôi không có được sự may mắn biết nhiều về nữ sĩ Bàng Ái Thơ, con gái nhà thơ – họa sĩ Bàng Sĩ Nguyên và là cháu gọi nhà thơ Bàng Bá Lân bằng bác, người có hai câu thơ nổi tiếng: Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi, mà một thời gian dài không ít người nhầm tưởng đấy là hai câu ca dao, và cũng chưa được đọc hết những tập thơ mà chị đã xuất bản.
***
Tình cờ trong một đợt đi công tác cùng đoàn nữ nhà văn vào Thanh Hóa, lần đầu tiên tôi gặp chị và được chị tặng tập thơ Mắt lặng,in năm 2011, vẽ hình một con mắt mở rất to, nhưng cũng…rất lặng. Về Hà Nội chị tặng tiếp tập Bạch lạp và Hoa hồng,in 2013, là những cuốn sách in gần đây nhất của chị.
Là người quen ngửi văn, chỉ cần liếc qua bìa và tên của hai tập sách, linh tính mách bảo với tôi rằng, đây là một người thơ khác biệt. Vâng, khác, rất khác! Từ cách vẽ bìa đến tên gọi của tập sách, tôi mơ hồ nhận ra hai điều: Một người thơ kỹ tính trong việc chọn chữ đặt tên cho đứa con tinh thần của mình và, quan trọng hơn đây có thể là một người thơ hướng nội.
Sau khi đọc hết hai tập Mắt lặng và Bạch lạp và Hoa hồng của nữ sĩ họ Bàng, tôi thấy thơ của chị không dễ đọc chút nào. Nhiều bài tôi phải đọc đi đọc lại vài lần. Trừ một số bài viết để trả ơn, hoàn nghĩa cho một vùng đất nào đấy mà chị đã từng qua như: Tản Viên, Phú Quốc, Hạ Long, Hòn Gai, Cô Tô… còn lại hầu hết là những cuộc siêu phẫu về bản thân bằng ngôn ngữ thơ.
Tuy nhiên những bài trả ơn, hoàn nghĩa ấy vẫn nằm trong nguồn mạch thi hứng cá nhân, cái mà người ta quen gọi là tạng. Tạng có nguồn cơn từ người. Mỗi người có một tạng riêng, không ai giống ai tuyệt đối, cùng lắm cũng chỉ là hao hao, tựa hồ như nhau mà thôi. Người làm sao chiêm bao làm vậy, các cụ nhà ta nói chẳng có sai! Tạng thơ của Bàng Ái Thơ cần phải đọc chậm, rất chậm, đọc để chiêm nghiệm, nghiền ngẫm, vì dường như thơ chị chỉ dành cho những tâm hồn đồng điệu, tấm lòng cộng cảm, chứ không phải loại thơ đọc để biết, đọc cho vui hoặc tìm kiếm một điều gì mới lạ về thi tứ hay ngôn từ biểu đạt, thể thức,…
Những tưởng một người phụ nữ như Bàng Ái Thơ, suốt ngày bận vẽ tranh, bán kiếm tiền để… đi làm từ thiện mãi tận vùng núi cao Hòa Bình, nơi thường có những cuộc đời không may mắn, những số phận nổi trôi theo kiếp người, chị còn lấy đâu ra thời gian để mà tự làm những cuộc siêu phẫu khác công phu như vậy.
Thế nhưng, giả tưởng ấy của tôi bỗng dưng trở thành điều ngớ ngẩn. Minh chứng là chị đã xuất bản 6 tập gồm: Sớm mai xuân, Ánh sáng từ viên sỏi, Trở lại mình, Cát loãng và hai tập tôi đang cầm trong tay là Mắt lặng, Bạch lạp và Hoa hồng. Chẳng cần biết Ái Thơ làm thơ vào lúc nào và càng không nên biết bao giờ thơ thôi tràn chảy trong tâm hồn chị, mà chỉ biết rằng tạng người như chị, khi nào còn thở được khí giời thì khi ấy còn thơ.
Qua những bài thơ của chị mà tôi từng đọc, cảm nhận chung là một hồn thơ mông lung và hướng nội. Chị thích và dường như có thế mạnh khai thác những gì mà bằng các giác quan thông thường khó ai có thể nhận biết được. Thơ chị giàu chất chiêm nghiệm và suy tư về kiếp người, cõi đời và lẽ trái ngang chỉ dành cho phận hồng nhan nói riêng và những con người yếu thế nói chung.
Chằng hề ngẫu nhiên mà trong thơ của chị hai chủ đề, cũng có thể xem là hình tượng thơ nổi trội là đêm và giấc mơ, hay nói rộng ra và đầy đủ hơn là những khoảng lặng, những nỗi u sầu dằng dặc dài và thăm thẳm sâu, đeo bám tâm hồn người thơ. Ngay mở đầu tập Bạch lạp và Hoa hồng,bạn đọc có thể nhận thấy ở bài Giấc mơ của ngón tay đêm. Tên bài thơ dường như là sự đánh đố đối với người đọc. Ở đời không ai ít hơn một lần mơ về một điều gì đấy. Nhưng ngón tay mơ thì chưa thấy ai nói bao giờ. Đã vậy lại còn phân biệt ngón tay đêm chứ không phải là ngón tay ngày. Đành rằng người ta thường mơ về ban đêm, nhưng cũng không ngoại trừ có người mơ ban ngày. Có lẽ vì thế người thơ cần thiết phải phân biệt chăng? Kỹ tính, kỹ nết đến thế là cùng!



Ở tập Mắt lặng ngay ở bài thứ hai Không giờ đã là đêm chưa vừa là một câu hỏi, nhưng là tự hỏi mình, chứ không hỏi người, vừa là câu trả lời để nhắc nhở mình đừng mãi quấn vào vòng luẩn quẩn:
Đêm mòn hao ai tước đoạt mất gì
Đêm cồn cào bởi đêm chẳng loãng
Ôm ước mơ chân thật mà cô đơn thảm loạn
Sự sợ hãi nào làm rêu phong đời tôi
…
Đành quên dần những cảm giác nghỉ ngơi
Điểm từng canh buông mình trôi trên phố
Chợt nhớ về những bước chân đã lỡ
Để quên rồi xưa phố thảng hoàng lan…
Đêm đen, đêm tối thì người ta nói nhiều, chứ đêm loãng quả thật là của riêng Bàng Ái Thơ. Cồn cào ruột gan, tâm trí làm đêm cứ đặc quánh lại, đến mức không thể loãng ra được nữa để người thơ còn hít thở khí giời, ngõ hầu tìm lại chút thanh thản cho tâm hồn. Thế mới biết lòng người thơ chộn rộn đến mức nào. Từng canh và từng đêm người thơ buông mình trôi trên phố, chẳng biết để làm gì. Một câu thơ bất định. Dường như cái phần xác của con người hiện tồn kia chẳng hề ăn nhập gì với phần hồn của chính nó. Chỉ biết, thi thoảng người thơ chợt nhớ đến những bước chân lầm lỡ trên đường đời. Rồi người thơ tiếp tục suy nghĩ, ngõ hầu tìm ra câu trả lời vì sao. Nhưng tất cả đều bất lực:…
Úp bàn tay lên mặt cạn khô ý nghĩ rồi
Đêm thật đêm xin một lần về lại
Tôi dẽ bước vào long đêm ấy
Dành lại những sát na siêu nhỏ chốn hoài nghi
Lấp đầy những khoảng trống trái tim
Mai trở dậy niềm vui không phờ phạc
Đợi không giờ
đợi đêm
loài sâu rên mê mệt
Phố ứa đêm sao vẫn trắng mặt người.
Tha thẩn cố đi tìm lại một đêm thật đêm mà nào đâu có thấy. Càng không thấy, người thơ càng chờ đợi, quên cả thời gian. Đến cả loài sâu cũng rên mê mệt mà người thơ cứ đợi đêm, đợi không giờ. Tưởng đến không giờ sẽ là đêm. Nhưng dường như cái đêm trăng sao vằng vặc đến mức ứa tràn cả phố kia là đêm của người ta, còn cái đêm mà Bằng Ái Thơ đi tìm thì vẫn trắng mặt người. Và đương nhiên đấy đâu phải là cái đêm thật đêm mà người thơ đang đi tìm. Xét ở khía cạnh này thì không giờ chưa hẳn đã là đêm. Một câu thơ thật sự ám ảnh người đọc.
Tôi đi tìm cõi vô thường trong tập Mắt lặng, một bài thơ không dài, chỉ có 10 câu, viết theo thể lục bát. Ở đây ta bắt gặpmột tâm hồn cô lưu, buồn rời rợi lang bang đi tìm địa chỉ ngôi nhà trăm năm – đấy chính là ngôi nhà của hạnh phúc gia đình mà nào đâu có thấy:
Đi hoài theo những quẩn quanh
Tình cờ lạc lối vướng cành phù dung…
Đối với người thơ, ngôi nhà trăm năm chẳng khác nào những cành phù dung sớm nở tối tàn, mịt mù như bóng chim, tăm cá hoặc giả cùng lắm cũng chỉ là mờ mờ nhân ảnh như người đi đêm (Nguyễn Gia Thiều) mà thôi. Hai câu, 7 và 8:
Một vườn hoa trắng vô cùng
Tôi như bỗng trắng giữa vùng trầm hương…
Hoa trắng vô cùng là chuyện của tự nhiên, trời đất, còn người thơ trắng giữa vùng trầm hương, ấy như là đã hóa rồi. Câu thơ nhẹ nhàng mà có độ rung thẳm sâu và độ ngân dài. Dù vậy, người thơ vẫn chưa tin đấy là cõi vô thường dành cho mình, nên cứ vẫn mải miết đi tìm. Nhưng có lẽ căn vận chưa đến, vì còn nặng gánh trần gian nên chị vẫn chưa thoát tục được. Cõi vô thường vẫn lảng vãng đâu đây, nhưng người thơ càng cố đi tìm thì nó càng như lánh xa, khiến chị suốt đời vẫn phải đi tìm mãi thế, chờ đến ngày đổi phận, chuyển kiếp khác chăng? Để rồi người thơ đành phải chấp nhận ngẩn ngơ tìm chốn nỗi buồn ngụ cư.
Phần đông phụ nữ thường đi tìm ngôi nhà trăm năm, còn với Bàng Ái Thơ dường như cảm thấy đấy là một cái gì đó vừa xa ngái, vừa xa xỉ nên chẳng mơ mòng. Thay vì đi tìm cái không tìm được nữa như cốc nước đã hắt đi, Bàng Ái Thơ tha thẩn đi tìm cõi vô thường dù chỉ có trong tâm tưởng và minh định bằng một thứ ngôn ngữ đặc biệt mà ta quen gọi là thơ. Âu đấy cũng là chốn nương thân cuối cùng để Bàng Ái Thơ còn được vui sống mỗi ngày. Bởi, như người ta vẫn nói, nếu cuộc sống không có gì thú vị thì chết chắc gì sẽ thú vị hơn. Tôi cầu chúc cho chị sống vui khỏe, kiên trì theo nghiệp văn chương để có thêm nhiều vần thơ mông lung và thẳm sâu. Đấy có thể cũng là cõi vô thường rồi, như quan niệm của Phật hoàng Trần Nhân Tông: Cư trần lạc đạo thả tùy duyên (tạm dịch: Sống ở trên đời buồn vui tùy theo duyên phận)./.
…………………………………….
Vài nét về tác giả bài viết:
Thông tin chung:
– Nhà LLPB văn học Đỗ Ngọc Yên có các bút danh: Huyền Vân, Viên An, sinh năm 1950, tại Thanh Hóa. Ông là Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam; Hội viên Hội Nhà văn Hà Nội; Thành viên Hội đồng Lý luận- Phê bình văn học, Hội Nhà văn Hà Nội.
– Ông nhập ngũ năm 1968, tai Trung đoàn 14, Tỉnh đội Thanh Hóa sau đấy chuyển về Sư đoàn 338, rồi Binh trạm 34, Đoàn 559 (nay là Binh đoàn Trường Sơn), chiến đấu tại chiến trường Nam Lào. Thương binh hạng ¾. Năm 1974, ông xuất ngũ về học tại Khoa Ngữ Văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội, khóa 19. Năm 1978. Ông tốt nghiệp và về công tác tại Viện Triết học, Viện Hàn lâm Khoa học xa hội Việt Nam. Năm 1988, ông đi làm quản lý lao động xuất khẩu tại Cộng hòa Dân chủ Đức (cũ). Năm 1998, ông về làm phóng viên, biên tập viên báo Sức khỏe & Đời sống (Bộ Y tế) đến khi nghỉ hưu. Hiện ông sống và làm việc tại Hà Nội.
Các tác phẩm đã xuất bản:
1/ Văn chương- Những cuộc truy tìm… (Tiểu luận- Phê bình văn học, 500 tr, Xb 2006);
2/ Nghe, Nhìn, Đọc, Viết và… suy ngẫm (Tiểu luận- Phê bình văn học, 500 tr, 2 Xb 007);
3/ Hệ lụy văn chương (Tiểu luận- Phê bình văn học, 200 tr, Xb 2008);
4/ Mạt vận (Tiểu thuyết, 417 tr, Xb 2010);
5/ Nhà văn Giải thưởng Hồ Chí Minh, quyển I (Chân dung tác giả và tác phẩm của 40 nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật từ 1996- 2016, 200 tr, Xb 2017);
6/ Nhà văn Giải thưởng Hồ Chí Minh,quyển II (Chân dung tác giả và tác phẩm của 40 nhà văn được Giải thưởng Hồ Chí Minh về Văn học- Nghệ thuật từ 1996- 2016, 200 tr, Xb 2017)
7/ Nhà văn Giải thưởng Nhà nước,quyển I (Chân dung tác giả và tác phẩm của 20 nhà văn Giải thưởng Nhà
nước từ 2001- 2016, 200 tr, Xb 2018);
8/ Dự cảm mùa thu (Tiểu luận – Phê bình văn học, 200 tr, Xb 2020);
9/ Dậy thì Giêng (Thơ, Xb 2020);
10/ Điều muốn nói (Thơ, Xb 2020);
11/ Chiến sĩ ta cầm bút (Tiểu luận – Phê bình văn học, 220 tr, Xb 2023).
Quan niệm về nghiệp văn:
“Theo tôi, văn chương là một cuộc chơi suốt đời: nghiệt ngã nhưng mà thú vị. Nó đòi hỏi người chơi phải tận tâm, tận dâng và tận hiến không ngừng nghỉ, ngõ hầu cho đi tâm lực, sức lực và trí tuệ để chỉ nhận lại sự thanh thản trước cuộc đời đấy éo le và ngang trái, nhưng cũng không thiếu niềm vui. Văn chương là cuộc vật lộn hóa sinh, quá trình vuợt thoát ra khỏi cái tôi của chính mình”
ĐỖ NGỌC YÊN
(Nhà lý luận – Phê bình văn học)