Mùa xuân năm 2022, châu Âu cựa mình thức giấc sau một giấc ngủ đông dài và nghẹt thở mang tên đại dịch. Khi những đường bay từ Á sang Âu vừa mới hanh thông, tôi đã vội vã xếp hành lý, cùng nữ sĩ Bàng Ái Thơ mang theo cả sự ngột ngạt của ba năm giam hãm để bay sang Hungary. Có cái gì đó thôi thúc, như một món nợ tâm tưởng từ lần đầu tôi đặt chân đến Budapest năm 2019. Phải mất ba năm dâu bể với bao biến động của thời cuộc, tôi mới có thể trở lại nơi này, để một lần nữa được đứng bên bờ Buda, leo lên những tòa thành cổ và phóng tầm mắt ngắm xuống dòng Danube xanh huyền thoại.
Dù vướng víu, nhưng tôi vẫn mặc nguyên bộ áo dài truyền thống Việt Nam đi khắp Budapest từ sáng tới chiều, và khi tới gần bức tượng mà nhà thơ Hungary Sándor Halmosi từng chỉ cho tôi, giới thiệu “Người đàn bà trên đỉnh cao Budapest” thì tôi dừng lại, nhờ nữ sĩ Bàng Ái Thơ chụp cho mình bức ảnh cùng với người đàn bà kiêu hãnh kia.
Danube mùa xuân vẫn vậy, lộng lẫy và kiêu kỳ như một dải lụa xanh thẫm vắt qua lòng kinh đô cổ kính. Nhưng lòng người sau bão giông thì đã khác. Đứng từ trên đỉnh đồi cao, cách bức tượng người phụ nữ vĩ đại đang kiêu hãnh vươn mình lên bầu trời chừng vài trăm mét, tôi bỗng chững lại. Gió hoàng hôn từ mặt sông thổi thốc lên, phả vào chúng tôi nỗi nghi ngờ lạnh lẽo. Chẳng hiểu sao, nhìn bóng dáng người phụ nữ bằng đồng sừng sững giữa không trung, tự do và bất khuất, trong tôi dâng lên một niềm suy tư cay đắng khi nghĩ về thân phận những người đàn bà.
Phụ nữ châu Âu, hay chính là hiện thân của bức tượng kiêu hãnh kia, họ được sinh ra để được tôn trọng, được chiều chuộng và trên hết là được tự do. Ở xứ sở này, quyền được sống cho chính mình của người phụ nữ là một điều hiển nhiên như hơi thở. Họ có thể yêu, có thể buông, có thể khóc, có thể cười và tự quyết định vận mệnh của đời mình mà không cần nhìn vào sắc mặt của những người xung quanh. Sự tự do ấy toát ra từ cái ngẩng đầu tự tại, từ những bước đi thong dong bên bờ Danube, không chút vội vã, không chút lo toan gánh nặng cơm áo hay những giáo điều vô hình của định kiến xã hội. Họ có thể đi bên người đàn ông yêu mình tới quán café, hoặc một mình tới quán rượu, thả mình uống cho tinh thần nhẹ bỗng, thoải mái thảo luận về bất cứ vấn đề gì mà chẳng vương một sợi âu lo về tính nhạy cảm.
Nhưng khi nhìn thấu cái vẻ lãng mạn, tự do ấy của bờ Buda, lòng tôi thắt lại khi nghĩ về những người phụ nữ ở quê nhà Việt Nam. Ôi, những người đàn bà chịu thương chịu khó của tôi! Người ta ca tụng họ bằng tám chữ vàng, người ta đặt lên vai họ cái danh xưng mỹ miều: “Giỏi việc nước, đảm việc nhà”. Nhưng có mấy ai nhìn ra cái bẫy ngọt ngào của những lời khen ngợi ấy? Đó không phải là đặc ân, đó thực chất là một chiếc gông cùm vô hình, buộc người phụ nữ lúc nào cũng phải gồng mình lên để vẹn toàn đôi đường. Họ vừa phải lao ra xã hội kiếm tiền, vừa phải là người giữ lửa, vừa phải chu toàn việc họ hàng nội ngoại, bếp núc tinh tươm. Họ bị kìm hãm bởi biết bao hủ tục, định kiến cổ hủ của một nếp nghĩ phong kiến dai dẳng. Một người phụ nữ ly hôn bị coi là thất bại, một người phụ nữ sống cho đam mê của mình bị gắn mác là ích kỷ. Những ý hướng phát triển bản thân, những khát vọng được tự do bay nhảy, được mạnh mẽ thể hiện cái tôi cá nhân cứ thế bị mài mòn, bóp nghẹt dưới cái bóng của hai chữ “hy sinh”.
Ngắm dòng xanh Danube phẳng lặng, lững lờ trôi dưới chân thành cổ, tâm trí tôi bỗng trôi dạt về dòng Sông Hồng nơi quê nhà. Hai dòng sông, hai sắc màu, như hai số phận tương phản của những người phụ nữ. Nếu Danube mang sắc xanh trong vắt, lãng mạn và kiêu sa, thong dong chảy qua những kinh thành hoa lệ với dáng vẻ hoàn toàn tự do, thì Sông Hồng lại quanh năm đỏ nặng màu phù sa, oằn mình bồi đắp cho ruộng đồng, làng mạc.
Sông Hồng của tôi đẹp chứ, nhưng đó là vẻ đẹp của sự nhọc nhằn và cam chịu. Dòng nước đỏ ngầu phù sa ấy giống như dòng máu, giọt mồ hôi của những người mẹ, người chị đang miệt mài bồi đắp cho cuộc sống của gia đình, chồng con. Sông Hồng nặng lòng nuôi dưỡng mùa màng hai bên bờ, mang lại sự trù phú cho xóm làng, nhưng sao chính bản thân dòng sông ấy mãi chẳng thể nào yên lòng cho được? Nó luôn cuộn sóng, luôn sục sôi trong lòng, giống như nỗi lòng ngổn ngang của người phụ nữ Việt Nam trước những rào cản vô hình. Họ bồi đắp cho cuộc đời của người khác, nhưng lại bỏ hoang chính tâm hồn mình.
Hoàng hôn Budapest buông xuống, nhuộm tím cả dòng Danube. Bức tượng người phụ nữ trên đỉnh cao bắt đầu lên đèn, rực rỡ và lộng lẫy. Tôi đứng đó, giữa một châu Âu hoa lệ đang hồi sinh sau đại dịch, mà lòng trĩu nặng một nỗi xót xa. Sự khác biệt giữa Danube và Sông Hồng là khoảng cách của tư duy, của sự giải thoát thân phận.
Bao giờ thì những người phụ nữ quê tôi mới có thể trút bỏ bớt những chiếc “áo giáp” đảm đang để sống một cuộc đời thanh thản? Bao giờ dòng Sông Hồng mới thôi cuộn đỏ những âu lo, để người đàn bà Việt Nam được yêu thương một cách trọn vẹn, được tôn trọng một cách tuyệt đối, và được tự do kiêu hãnh như bức tượng trên đỉnh Buda kia? Câu hỏi ấy buông vào màn đêm xứ lạ, tan ra trong tiếng sóng vỗ rì rào của dòng Danube, lãng mạn đấy, nhưng sao mà cay đắng đến nhói lòng.
Kiều Bích Hậu