LTS: Kính thưa bạn đọc, bài viết này thể hiện góc nhìn cá nhân của tác giả Văn Diên, xuất phát từ tâm nguyện chân thành muốn góp thêm một tiếng nói vào sự phát triển của giáo dục Việt Nam. Đây không phải là sự định hướng hay áp đặt cho số đông, mà là góc nhìn gợi mở về triết lý giáo dục. Ban biên tập rất mong các cây viết cùng độc giả thoải mái trao đổi và đóng góp ý kiến thêm.
A. Những vấn đề cơ bản của Giáo dục khai phóng:
Giáo dục khai phóng (Liberal Education) là triết lý giáo dục hướng tới phát triển con người toàn diện, giúp người học có năng lực tư duy độc lập, phản biện, sáng tạo, năng lực tự học suốt đời và ý thức trách nhiệm với xã hội; thay vì chỉ đào tạo kỹ năng nghề nghiệp hẹp hay truyền đạt kiến thức một chiều.
Khái niệm này bắt nguồn từ phương Tây (liberal arts), nhưng ngày nay được hiểu rộng hơn là một mô hình giáo dục chuẩn bị cho con người thích ứng với một thế giới luôn biến đổi.
8 đặc trưng cơ bản của giáo dục khai phóng:
Thứ nhất: Lấy người học làm trung tâm.
Khuyến khích người học chủ động khám phá, đặt câu hỏi, tranh luận và tự hình thành tri thức.
Thứ hai: Giáo dục toàn diện.
Phát triển đồng thời tri thức, đạo đức, nhân cách, thẩm mỹ, thể chất và năng lực xã hội.
Thứ 3: Tư duy phản biện và độc lập.
Không tiếp nhận tri thức một cách thụ động mà biết phân tích, đánh giá, phản biện trên cơ sở chứng cứ.
Thứ tư: Liên ngành.
Không bó hẹp trong một chuyên ngành mà kết nối khoa học tự nhiên, xã hội, nhân văn, nghệ thuật và công nghệ.
Thứ 5: Tự do học thuật có trách nhiệm.
Tôn trọng quyền tìm tòi, sáng tạo và bày tỏ quan điểm, đồng thời tuân thủ chuẩn mực đạo đức, pháp luật và tính trung thực khoa học.
Thứ 6: Phát triển năng lực học tập suốt đời.
Trang bị phương pháp học, khả năng thích ứng và đổi mới trước sự thay đổi của khoa học, công nghệ và xã hội.
Thứ 7: Đề cao giá trị nhân văn.
Bồi dưỡng tinh thần nhân ái, tôn trọng sự khác biệt, ý thức công dân và trách nhiệm đối với cộng đồng.
Thứ 8: Đánh giá theo năng lực.
Chú trọng khả năng vận dụng kiến thức để giải quyết vấn đề thực tiễn hơn là ghi nhớ máy móc.
Tìm về nguồn gốc, tư tưởng giáo dục khai phóng, việc vận dụng của các quốc gia tiên tiến văn minh trên thế giới và của Trung Quốc có ý thức hệ giống ta và là nước đông dân nhất nhì thế giới, ta thấy:
– Nguồn gốc: Giáo dục khai phóng bắt nguồn từ Hy Lạp cổ đại, phát triển qua La Mã cổ đại, được phục hưng ở châu Âu và hoàn thiện trong các đại học phương Tây.
– Nền tảng tư tưởng: Khởi nguồn từ Socrates (đối thoại, phản biện), Plato (giáo dục con người toàn diện), Aristotle (đức hạnh, lý trí); thời cận đại được phát triển bởi John Henry Newman và Wilhelm von Humboldt.
– Các nước phát triển vận dụng: Mỹ, Anh, Đức, Canada, Nhật Bản, Hàn Quốc… đều không áp dụng thuần túy mà kết hợp giữa giáo dục khai phóng với đào tạo nghề, STEM, khoa học – công nghệ và giáo dục công dân. Mục tiêu là tạo người học có tư duy độc lập nhưng gắn với trách nhiệm xã hội.
– Trung Quốc: Tiếp thu có chọn lọc. Từ thập niên 2000, nhiều đại học như Peking University, Tsinghua University mở chương trình giáo dục khai phóng. Tuy nhiên, Trung Quốc nhấn mạnh nguyên tắc “lấy mình làm chủ, dùng phương Tây làm tham khảo”, kết hợp khai phóng với giáo dục chính trị tư tưởng, văn hóa truyền thống và yêu cầu phát triển quốc gia, không sao chép mô hình phương Tây.
Như vậy: Giáo dục khai phóng từ nguồn gốc tư tưởng đến chủ trương chính sách, tổ chức vận dụng triển khai thực hiện với mục tiêu chung là nhằm phát triển con người biết tự chủ tư duy, biết phản biện, biết sáng tạo và có trách nhiệm, tuy nhiên mỗi quốc gia mỗi thời đại đều điều chỉnh theo hệ giá trị lịch sử, văn hóa và mục tiêu phát triển của mình.
Tại sao lại cần hiểu tư duy lý luận trên để đi tiếp, từ khái quát chung đến bản chất hệ tư tưởng và cuối cùng là thực tiễn áp dụng. Dưới đây là phân tích chi tiết để làm rõ ba tầng vế trong luận điểm:
Thứ nhất : “Giáo dục khai phóng” mới đúng ở cái chung. Khi dùng cụm từ “giáo dục khai phóng” chính là nói về phương pháp, công cụ và triết lý cốt lõi của nền giáo dục này. Cái chung ở đây bao gồm:
Phát triển tư duy độc lập tiếp thu có cân nhắc hoặc phản biện, khả năng tự học suốt đời, năng lực liên môn, và giải phóng con người khỏi sự thiếu hiểu biết hay các định kiến lỗi thời.
Giá trị phổ quát: Dù ở bất kỳ chế độ chính trị nào, một sinh viên học khai phóng đều phải biết cách đặt câu hỏi, phân tích dữ liệu khách quan và không tiếp thu kiến thức một cách thụ động. Như vậy theo quan điểm của tác giả, giáo dục khai phóng là tư duy giáo dục mang tính cách mạng, là một thành tựu quan trọng của tư tưởng giáo dục nhân loại; không phải sản phẩm riêng của bất kỳ chế độ chính trị nào.
Thứ hai: Tầng tiếp theo chính là hệ tư tưởng hay mục đích hướng tới của “giáo dục khai phóng”. Giáo dục không bao giờ tồn tại trong môi trường mà không gắn với lịch sử văn hoá và thể chế xã hội nhất định; nó luôn là công cụ của một hình thái kinh tế – xã hội cụ thể để đào tạo ra những con người phục vụ cho chế độ đó. Do đó chế độ chính trị nào sẽ đặt ra mục tiêu yêu cầu cho giáo dục của chế độ chính trị đó. Chính vì vậy, theo quan điểm của tác giả việc gắn thêm cụm từ “tư bản chủ nghĩa” hay “xã hội chủ nghĩa” đi liền với giáo dục khai phóng (tạm 2 loại hình tương đối như vậy) chính là xác định mục đích tối hậu và hệ giá trị cốt lõi mà nền giáo dục của thể chế xã hội đó hướng tới:
– Giáo dục khai phóng TBCN: Hướng cá nhân tới việc trở thành một “thực thể độc lập” có sức cạnh tranh cao trên thị trường, tối đa hóa tự do cá nhân, và tự chịu trách nhiệm về số phận kinh tế của mình.
Giáo dục khai phóng XHCN: Hướng cá nhân tới việc làm chủ bản thân để làm chủ tập thể. Mục đích xuyên suốt là giáo dục con người vừa hồng vừa chuyên, có đạo đức có tri thức làm chủ bản thân, phát triển toàn diện để phụng sự cộng đồng, hài hòa giữa “tự do cá nhân” và “nghĩa vụ công dân”.
– Thứ ba: Giáo dục khai phóng ở từng môn học cụ thể mới thấy được việc truyền dạy đi theo hướng nào TBCN hay XHCN? Đây chính là biểu hiện của mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn.
Chỉ khi đi vào từng môn học cụ thể, ta mới thấy rõ hệ tư tưởng dẫn dắt dòng chảy tư duy của người học đi về hướng nào. Diễn giải vài môn học cụ thể sau:
Môn học Kinh tế học của các quốc gia TBCN: Tập trung vào quy luật cung cầu, tối đa hóa lợi nhuận cá nhân/doanh nghiệp, hành vi của người tiêu dùng ích kỷ hợp lý (Homo economicus). Cũng môn này của các nước XHCN: Tập trung vào tính quy luật của các quan hệ sản xuất, sự phân phối công bằng, vai trò điều tiết của nhà nước vì lợi ích nhân dân.
Môn học Lịch sử của TBCN: Tiếp cận lịch sử qua góc nhìn hành vi của các vĩ nhân, các cuộc cạnh tranh quyền lực, hoặc tiến trình phát triển của quyền sở hữu tư nhân. Của XHCN: Tiếp cận lịch sử dựa trên duy vật biện chứng, lịch sử phát triển của các hình thái kinh tế, và vai trò quyết định của quần chúng nhân dân.
Môn học Triết học của quốc gia TBCN: Đề cao các trường phái chủ nghĩa hiện sinh, chủ nghĩa tự do cá nhân (Liberalism), coi cá nhân là tự trị tuyệt đối. Của các nước XHCN: Đề cao triết học Mác – Lênin, đặt con người trong tổng hòa các quan hệ xã hội, tự do gắn liền với nhận thức cái tất yếu.
Môn Văn học / Nghệ thuật : TBCN tôn vinh tự do sáng tạo tuyệt đối theo cái tôi cá nhân, nghệ thuật vị nghệ thuật, hoặc phục vụ thị hiếu thị trường. Còn các nước XHCN truyền dạy: Nghệ thuật vị nhân sinh, hướng tới các giá trị chân – thiện – mỹ, phản ánh hiện thực đời sống và cổ vũ tinh thần xây dựng xã hội.
Tóm lại, tư duy về giáo dục khai phóng cần bóc tách rõ ràng: Cái chung là phương pháp luận (khai mở trí tuệ tiềm thức bên trong), cái riêng là hệ tư tưởng mục đích (đào tạo ai, cho ai), và cái đơn nhất chính là nội dung môn học cụ thể (nơi bộc lộ bản chất hướng tới).
Nếu muốn tiếp tục mổ xẻ sâu hơn, chúng ta có thể thảo luận: Cách từng môn học cụ thể (ví dụ: Luật học hoặc Xã hội học) được giảng dạy khác nhau thế nào giữa hai hệ thống. Làm thế nào để tiếp thu phương pháp khai phóng mà không bị chệch hướng về hệ tư tưởng. Từ tư duy lý luận giáo dục trên cho thấy khi ta tiếp cận trong các văn bản, bài viết, trong khi phát ngôn chính thống từ những nhà lãnh đạo quản lý giáo dục của quốc gia về “giáo dục khai phóng” thì ta hiểu như phân tích trên; không được đánh đồng quan điểm chính trị.
B. Giáo dục là quốc sách hàng đầu:
Chủ tịch Hồ Chí Minh ngay từ những ngày đầu lập nước đến quá trình lãnh đạo đã luôn đặc biệt chú trọng quan tâm đến giáo dục, từ đó mà Đảng và Nhà nước ta luôn đặt giáo dục đào tạo con người, giáo dục nhân dân lên vị trí quốc sách hàng đầu trong quá trình xây dựng giữ và phát triển đất nước. Xây dựng con người mới Việt Nam xã hội chủ nghĩa vì mình vì mọi người, hoà nhập cùng cộng đồng quê hương đất nước và hội nhập với nhân loại toàn cầu. Những năm gần đây nhìn theo tiến trình Nghị quyết 29-NQ/TW (2013), Nghị quyết 71-NQ/TW (2025), Văn kiện Đại hội XIV (2026), có thể thấy tư duy về giáo dục của Việt Nam đã chuyển từ “đổi mới giáo dục” sang “đột phá phát triển giáo dục”. Giáo dục không chỉ được coi là quốc sách hàng đầu mà còn được xác định là nhân tố quyết định vận mệnh dân tộc trong bối cảnh cạnh tranh về tri thức, khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo.
Có thể khái quát hướng đi trọng tâm của giáo dục Việt Nam thời gian tới thành 8 định hướng lớn:
1. Phát triển con người toàn diện: Chuyển từ giáo dục thiên về truyền thụ kiến thức sang phát triển phẩm chất, năng lực, tư duy sáng tạo, năng lực thích ứng và học tập suốt đời. Đây là sự kế thừa trực tiếp tinh thần của Nghị quyết 29 và được nhấn mạnh hơn trong Nghị quyết 71.
2. Xây dựng nền giáo dục mở, linh hoạt và liên thông: Người học có nhiều con đường học tập, chuyển đổi giữa các bậc học và học tập suốt đời; bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục công bằng.
3. Đưa khoa học, công nghệ và chuyển đổi số trở thành động lực của giáo dục: Đẩy mạnh AI, dữ liệu số, học liệu số, STEM/STEAM, đổi mới phương pháp dạy học và quản trị giáo dục. Điều này gắn chặt với chiến lược phát triển khoa học – công nghệ và chuyển đổi số quốc gia.
4. Đổi mới quản trị giáo dục: Mở rộng tự chủ, tăng trách nhiệm giải trình, phát triển đội ngũ nhà giáo, đổi mới cơ chế tài chính và quản trị hiện đại.
5. Gắn giáo dục với phát triển đất nước và thị trường lao động: Đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
6. Nâng cao chất lượng giáo dục đại học và nghiên cứu: Xây dựng các trường đại học mạnh, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển giao công nghệ và hội nhập quốc tế.
7. Bảo đảm công bằng trong tiếp cận giáo dục: Giáo dục công lập vẫn giữ vai trò trụ cột, đồng thời phát huy vai trò của giáo dục ngoài công lập trong một hệ thống giáo dục quốc dân thống nhất.
8. Giữ vững bản sắc dân tộc đồng thời hội nhập quốc tế: Tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới nhưng không sao chép nguyên mẫu; xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có năng lực cạnh tranh toàn cầu và bản lĩnh văn hóa dân tộc.
Đánh giá về triết lý giáo dục, nếu so sánh với các mô hình tiên tiến trên thế giới, có thể thấy Việt Nam đang từng bước tiếp cận nhiều đặc trưng của giáo dục khai phóng hiện đại, như phát triển năng lực, lấy người học làm trung tâm, học tập suốt đời, liên ngành, sáng tạo và hội nhập. Tuy nhiên, Việt Nam không lựa chọn mô hình khai phóng thuần túy mà kết hợp với mục tiêu đào tạo nguồn nhân lực cho phát triển đất nước, giáo dục đạo đức, bản sắc văn hóa và định hướng xã hội chủ nghĩa. Vì vậy, có thể xem hướng cải cách hiện nay là một mô hình giáo dục mở, phát triển năng lực, mang nhiều yếu tố của giáo dục khai phóng nhưng được điều chỉnh phù hợp với điều kiện và mục tiêu phát triển của Việt Nam.
Để làm rõ thêm tiến trình cải cách giáo dục nước ta thời gian qua; Ta thấy đã rất chú trọng đến nghiên cứu thành tựu và tính ưu việt giáo dục của các nước tiên tiến trên thế giới. Nhận thấy giáo dục xét theo các bảng xếp hạng quốc tế (PISA, năng lực đổi mới sáng tạo, chất lượng đại học, mức độ hài lòng của người học…), thì không có một nền giáo dục nào được coi là “tiên tiến nhất” tuyệt đối. Mỗi quốc gia mạnh ở một phương diện khác nhau. Tuy nhiên, có một số mô hình được giới nghiên cứu giáo dục đánh giá rất cao, họ cho rằng:
– Phần Lan dẫn đầu về triết lý giáo dục nhân văn.
– Singapore dẫn đầu về hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực.
– Hoa Kỳ dẫn đầu về giáo dục đại học và nghiên cứu.
– Nhật Bản nổi bật về giáo dục nhân cách.
– Thụy Sĩ và Hà Lan cũng là những mô hình rất tiên tiến về giáo dục nghề nghiệp và đại học. Từ đó đã đi đến những chủ trương chính sách khoa học phù hợp với thực tiễn, đó là không sao chép nguyên mẫu bất kỳ quốc gia
nào, mà tiếp thu có chọn lọc, chọn những ưu việt tương đồng.
– Từ Phần Lan: Lấy người học làm trung tâm. Phát triển năng lực thay vì chỉ truyền đạt kiến thức. Dạy học tích hợp. Tăng quyền chủ động của giáo viên.
– Từ Singapore: STEM, AI, chuyển đổi số. Học tập suốt đời. Gắn giáo dục với nhu cầu phát triển đất nước.
– Từ Nhật Bản: Giáo dục đạo đức. Hoạt động trải nghiệm. Kỷ luật và trách nhiệm cộng đồng.
– Từ Hoa Kỳ: Đại học tự chủ. Khuyến khích nghiên cứu và đổi mới sáng tạo. Xu hướng liên ngành và giáo dục khai phóng ở một số trường đại học.
Bên cạnh triết lý giáo dục khai phóng đã trình bày ở trên, trên thế giới còn hình thành và phát triển nhiều triết lý, mô hình giáo dục khác như: (2) giáo dục thực dụng (Pragmatic Education) đề cao học đi đôi với hành; (3) giáo dục nhân văn (Humanistic Education) lấy người học làm trung tâm; (4) giáo dục kiến tạo (Constructivist Education) giúp người học tự kiến tạo tri thức; (5) giáo dục STEM/STEAM phát triển năng lực khoa học, công nghệ và sáng tạo; (6) giáo dục dựa trên năng lực (Competency-based Education) lấy chuẩn đầu ra làm thước đo; (7) giáo dục hướng nghiệp (Career & Technical Education) gắn đào tạo với nhu cầu thị trường lao động; (8) giáo dục toàn diện (Holistic Education) phát triển hài hòa trí tuệ, thể chất, đạo đức và kỹ năng sống; (9) giáo dục Montessori phát huy tính tự chủ của trẻ; (10) giáo dục Waldorf (Steiner) chú trọng nghệ thuật và sự phát triển hài hòa; (11) giáo dục Reggio Emilia coi trẻ là chủ thể sáng tạo trong quá trình học tập.
Thực tiễn cho thấy, thành công của các nền giáo dục tiên tiến không đến từ việc tuyệt đối hóa một triết lý hay mô hình duy nhất. Mỗi quốc gia đều nghiên cứu, tiếp thu và kết hợp linh hoạt những giá trị ưu việt của các mô hình giáo dục phù hợp với mục tiêu phát triển đất nước, đặc điểm văn hóa, điều kiện kinh tế – xã hội và yêu cầu của từng cấp học, từng lĩnh vực đào tạo. Chính sự dung hòa giữa truyền thống và đổi mới, giữa bản sắc dân tộc và tinh hoa giáo dục nhân loại đã tạo nên sức sống của nhiều nền giáo dục hàng đầu thế giới.
Việt Nam cũng đang vận dụng có chọn lọc và sáng tạo xu hướng đó; tiếp thu tinh hoa giáo dục thế giới, đồng thời giữ vững mục tiêu xây dựng nền giáo dục Việt Nam phát triển toàn diện, đào tạo con người có phẩm chất, năng lực, bản lĩnh, tinh thần sáng tạo, ý thức công dân và khát vọng cống hiến vì sự phát triển đất nước. Đây là hướng tiếp cận phù hợp với chủ trương đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo trong bối cảnh hội nhập quốc tế, vừa bảo đảm tính hiện đại, vừa giữ vững bản sắc dân tộc và định hướng phát triển của quốc gia trong kỷ nguyên mới.
Đối với những cơ sở giáo dục vận dụng triết lý giáo dục khai phóng, như Trường Đại học Fulbright Việt Nam, việc tổ chức và quản lý mục tiêu, nội dung chương trình đào tạo cần tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật Việt Nam. Đồng thời, đối với những ngành đào tạo phục vụ khu vực công hoặc các vị trí trong hệ thống chính trị, chương trình đào tạo cần bảo đảm người học được trang bị đầy đủ các học phần theo quy định, đáp ứng yêu cầu về phẩm chất chính trị, đạo đức nghề nghiệp, kiến thức chuyên môn và năng lực thực thi nhiệm vụ theo quy định của Nhà nước.
C. Giải pháp căn bản khắc phục những hạn chế để đạt mục tiêu đổi mới giáo dục hiện nay:
Giáo dục là quốc sách hàng đầu, đồng thời là quyết sách chiến lược quyết định chất lượng nguồn nhân lực, năng lực cạnh tranh quốc gia và sự phát triển bền vững của mỗi con người, mỗi gia đình, mỗi địa phương và cả dân tộc. Những năm qua, Việt Nam đã từng bước hoàn thiện đường lối, thể chế và chiến lược phát triển giáo dục với mục tiêu, lộ trình, cơ chế phân cấp, phân quyền ngày càng rõ hơn. Tuy nhiên, thực tiễn vẫn còn khoảng cách giữa chủ trương và tổ chức thực hiện khi bệnh thành tích, áp lực điểm số, dạy thêm, những bất cập về sách giáo khoa, quy hoạch mạng lưới trường lớp, đội ngũ giáo viên, tự chủ đại học, hướng nghiệp dạy nghề, chất lượng lao động, chất lượng nghiên cứu khoa học và quản trị giáo dục – đào tạo chưa được khắc phục đồng bộ. Nguyên nhân chủ yếu không phải do thiếu chủ trương mà do năng lực thực thi, cơ chế phối hợp, giám sát và trách nhiệm giải trình ở các cấp còn bất cập, hạn chế. Vì vậy, đột phá của giai đoạn mới phải chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang quản trị hiện đại, lấy chất lượng đầu ra và sự phát triển toàn diện người học làm trung tâm; đồng thời xác lập rõ giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, toàn dân và cả hệ thống chính trị. Bộ Giáo dục và Đào tạo cùng Bộ trưởng giữ vai trò tư lệnh ngành, nhưng hiệu quả của mọi quyết sách chỉ được bảo đảm khi Chính phủ, các bộ, ngành, chính quyền địa phương, cơ sở giáo dục, phụ huynh, học sinh, gia đình, doanh nghiệp và toàn xã hội cùng nhận thức đúng, cùng hành động và cùng chịu trách nhiệm vì tương lai đất nước, sự nghiệp giáo dục sẽ thành công.
Văn Diên
(7.2026)