Đọc tập thơ ngắn song ngữ Việt – Hàn “Tranh quê” (NXB Văn học, 2026) của Lê Đăng Hoan, người đọc như bước vào một không gian nghệ thuật tối giản mà giàu dư vị. Khởi đi từ những ký ức bình dị của quê hương, tác giả kiến tạo một thế giới thi ca dung hòa giữa truyền thống và hiện đại. Thơ, nét họa chấm phá và thư pháp truyền thống của nghệ nhân Lại Duy Bến cộng hưởng hài hòa, làm nên một chỉnh thể thẩm mỹ tinh tế và lắng sâu.
Mỗi bài thơ trong “Tranh quê” giống như một lát cắt sắc mảnh, một chớp mắt lưu giữ khoảnh khắc của vạn vật. Giữa những dòng thơ ngắn là những khoảng lặng, mời gọi người đọc dùng chính trải nghiệm và suy tưởng của mình để lấp đầy khoảng trống cảm xúc: “Nứa rách, phên thưa./ lưng còng bóng mẹ,/ chiều xưa.” (Nhà xưa 2); “Gà gáy canh ba/ cha dắt bò ra ruộng/ trăng trải luống cày.” (Cha). Nhà thơ không khép kín ý nghĩa trong câu chữ mà trao phần còn lại cho trực giác người đọc. Nhờ vậy, mỗi bài thơ lưu giữ được một không gian cảm xúc rộng mở. Sự tối giản này biến những ký ức phân mảnh thành thước phim quay chậm. Nếu “Nhà xưa 2” là một gam màu trầm, tạc vào không gian cái nghèo khó mà ấm áp tình mẫu tử, thì “Cha” lại mở ra một chiều kích rộng lớn của lao động, nơi con người và vũ trụ hòa làm một.
Bên cạnh thể thơ ba dòng, tác giả thể hiện tư duy nghệ thuật linh hoạt khi kết hợp nhuần nhuyễn giữa các thể thơ truyền thống và hiện đại. Thể tứ tuyệt kế thừa tư duy hàm súc của cổ phong phương Đông, gói gọn những suy tư lớn lao chỉ trong bốn câu: “Hoa giẻ mùa này ngát hương say/ Gửi em tất cả nỗi nhớ đầy/ Tình như hoa thắm ngày thêm đượm/ Giữ mãi nghe em nghĩa tình này.” (Hoa giẻ mùa này). Bản chất của tứ tuyệt là “ý tại ngôn ngoại” (ý ở ngoài lời). Không gian “hương say” và “nỗi nhớ đầy” được nâng tầm thành một lời nguyện ước mang tính phổ quát về lòng thủy chung với cội nguồn. Tác giả mượn cái hữu hạn, chóng phai của sắc hoa để neo giữ cái vô hạn của nghĩa tình. Lời nhắn gửi ở câu kết chính là sự bừng ngộ của một tâm hồn đã đi qua giông bão, giữa thế gian vạn vật vô thường, thứ duy nhất đáng được gìn giữ và có khả năng trường tồn cùng thời gian chính là tình nghĩa vẹn nguyên ban đầu.
Thể lục bát trong tập thơ mang đậm “điệu hồn dân tộc”, da diết và đằm sâu, nâng đỡ mạch cảm xúc hoài niệm về gia đình và xứ sở: “Quê tôi, trâu trước người sau,/ Vai cày quặn ách, bừa đau u bò./ Trăm năm vẫn cứ thân cò,/ Đất đai lật ngửa nằm chờ nắng mưa.” (Quê tôi ngày ấy); “Rượu cần, gà nướng, cơm lam,/ tiếng ếch, tiếng dế râm ran giữa rừng…” (Cơm chiều cùng bạn). Những cặp câu tạo ra một trường đối xứng cảm xúc, mở rộng không gian phản tư cho người đọc; nó gợi nhắc rằng vẻ đẹp của cội nguồn không chỉ có sự ngọt ngào, thơ mộng mà còn được kết tinh từ những vết hằn nhọc nhằn của lịch sử. Chính từ sự thấu cảm những phong vị đối lập ấy, một tình yêu quê hương bản xứ vừa sâu nặng, vừa bao dung mới thực sự được định hình trọn vẹn trong tâm thức người đọc.
Trong “Tranh quê”, thể thơ tự do tạo ra không gian mở cho những trăn trở, chiêm nghiệm mang tính hiện đại trước thế sự: “Xin đừng nói,/ về những điều không thể,/ về em!/ trên đời tất cả đều có thể,/ thời gian!” (Thời gian). Thời gian ở đây trở thành quyền lực chi phối mọi biến đổi của đời sống. Lối thơ bất định ấy buông một câu hỏi lơ lửng vào tâm trí người đọc về sự giới hạn của nhận thức; trong một thế giới thế sự đa đoan, liệu có điều gì là bất biến? Bằng cách phá vỡ ảo tưởng về cái không thể, bài thơ hướng con người tới tâm thế đối diện với thực tại bằng lối tư duy gợi mở, chấp nhận mọi biến số của cuộc đời như một lẽ tất yếu của dòng chảy nhân sinh.
Dưới hình thức song ngữ Việt – Hàn, “Tranh quê” không chỉ mở rộng phạm vi tiếp nhận mà còn gia tăng khả năng đối thoại liên văn hóa. Những ký ức thấm đẫm hồn quê và bản sắc Việt được chuyển hóa thành các giá trị thẩm mỹ mang tính phổ quát. Bản dịch uyển chuyển giúp bạn đọc Hàn Quốc, một dân tộc giàu ý thức gìn giữ cội nguồn, dễ dàng đồng cảm với thế giới hoài niệm mà tập thơ kiến tạo.

Nếu hình thức nghệ thuật là chiếc khung vững chãi thì thế giới hoài niệm chính là hồn cốt của tác phẩm. Lật mở từng trang thơ, người đọc như trở về với không gian làng quê Việt xưa cũ. Tác giả thâu nhận những gì thân thương nhất, từ lũy tre xanh, cánh cò chớp nắng, cho đến cả mùi khói bếp hòa lẫn mùi phân trâu, hay món nhút Nghệ An mặn mòi vị đất. Thấp thoáng sau đó là sự đối sánh đầy trăn trở giữa làng quê xưa bình yên với làng quê nay đang cuốn vào vòng xoáy hiện đại hóa, một tiếng lòng níu giữ những giá trị văn hóa có nguy cơ mai một.
Trong bức tranh ấy, nét vẽ thiêng liêng nhất dành cho gia đình và đấng sinh thành. Đó là người cha gầy gò bên điếu cày tre phả khói sương: “Điếu cày chạm bạc,/ nhớ điếu cày tre,/ dáng cha hao gầy!” (Nhớ cha); Là tấm lưng còng của mẹ gánh gồng cả giông bão qua năm tháng: “Mái nhà xưa,/ ngõ nhỏ,/ mẹ ta đi về.” (Nhà xưa 1)
Lòng biết ơn ấy còn mở rộng thành tình yêu lớn lao với lịch sử dân tộc. Đứng trước đài liệt sĩ Lam Sơn, bước chân người lính già bồi hồi dâng nén tâm nhang thành kính lên những người con đã gửi lại tuổi thanh xuân nơi chiến trường cho hòa bình hôm nay. Chính tình yêu lớn lao này đã nâng tầm tập thơ, biến những hoài niệm cá nhân thành tiếng lòng đồng điệu với lịch sử dân tộc.
Đi qua mảng màu hoài niệm, “Tranh quê” mở ra chiều sâu của những chiêm nghiệm nhân sinh. Ở tuổi “thất thập cổ lai hy”, Lê Đăng Hoan nhìn cuộc đời bằng nhãn quan thấu suốt, tự tại. Ông nhận ra quy luật vô thường và sự hữu hạn của kiếp người trước chuyển vận của thiên nhiên, vũ trụ: “Họa, phúc,/ trước sự hủy diệt,/ tất cả là hư vô.” (Họa – phúc). Cái nhìn ấy không bi lụy mà hướng con người đến phong thái sống ung dung, buông bỏ sân si để tìm lại bản ngã. Từ sự thấu suốt vô thường, thơ ông tỏ rạng lòng trắc ẩn trước những mảnh đời lam lũ, những người nghèo co ro trong gió lạnh, chị lao công lặng lẽ quét rác đêm giao thừa, hay đôi vợ chồng mù dắt nhau đi trong bóng tối nhưng trong lòng ngập tràn ánh sáng thủy chung.
Nhân sinh quan của tác giả còn thấm đẫm tinh thần từ bi của Phật giáo về một thế giới vạn vật bình đẳng. Người đọc nhói lòng trước ánh mắt buồn bã của chú voi, chú khỉ nơi rạp xiếc bị tước đoạt tự do. Lắng nghe cả nỗi đau của muông thú, Lê Đăng Hoan đã nâng tình yêu thương lên thành triết lý sinh thái nhân văn, trân trọng mọi sinh mệnh. Để rồi, đỉnh cao của sự thấu cảm ấy là trạng thái hòa hợp tuyệt đối giữa con người và tạo vật: “Một bức tranh đồng quê,/ gợi con đường nhỏ,/ hai nhà chung sân!” (Tranh quê); “Hoa nhãn vàng,/ đàn ong nặng cánh,/ mật nhuốm màu trăng.” (Con đường mùa xuân 2). Không gian nghệ thuật lúc này xóa nhòa ranh giới giữa cái tôi cá nhân và thế giới khách quan, chỉ còn bức tranh nhân sinh ấm áp nghĩa tình và khúc ca của tạo vật trong mùa sinh sôi.
Đặt “Tranh quê” trong dòng chảy văn học đương đại, người đọc nhận ra các thi ảnh quen thuộc như luống cày, cánh cào cào, hạt gạo, hàng thông reo… Đây là những biểu tượng đã xuất hiện nhiều trong thơ viết về nông thôn, vì thế ở một số bài, cảm hứng hoài niệm chưa tạo được bất ngờ đột phá về hình ảnh hay cấu trúc. Tuy nhiên, điều đó không làm giảm giá trị của tập thơ. Ở tuổi xế chiều, điều nhà thơ hướng đến không còn là sự cách tân quyết liệt, mà là gìn giữ một không gian tinh thần trong trẻo, bình yên và trao gửi nó đến người đọc.
Sự sâu sắc trong tư tưởng của “Tranh quê” phần nào được lý giải bởi góc nhìn của tác giả. Xuất thân là Tiến sĩ ngành Luyện kim, từng nghiên cứu tại Bắc Triều Tiên và Liên Xô cũ, Lê Đăng Hoan mang đến cho thơ một tư duy giàu lý tính cùng chiều sâu chiêm nghiệm. Hơn hai mươi năm giảng dạy tiếng Hàn, tham gia biên soạn nhiều bộ giáo trình và kinh nghiệm của một dịch giả lâu năm đã giúp ông chuyển ngữ chính tác phẩm của mình sang tiếng Hàn một cách tự nhiên, biến tập thơ thành một nhịp cầu văn hóa kết nối tâm hồn độc giả hai dân tộc.
Ấn tượng lắng đọng trong “Tranh quê” là dư vị của một tấm lòng thành thực, gắn bó với cội nguồn. Giữa kỷ nguyên số, nơi các giá trị ảo ngày càng lấn át đời sống tinh thần, những nét vẽ tối giản của Lê Đăng Hoan khiến người đọc chậm lại để lắng nghe và soi chiếu vào miền sâu thẳm của chính mình. Đó cũng là dấu ấn thẩm mỹ riêng mà tập thơ tạo dựng. Khi mọi dấu tích của thời gian dần phai nhạt, những hình ảnh được neo giữ bằng tình yêu và ký ức vẫn tiếp tục sống trong tâm hồn người đọc, góp phần gìn giữ ký ức xứ sở như một giá trị văn hóa bền vững.
Hải Phòng, 8/7/2026
M.V.P