Trong một lần về thăm quê vào năm 2006, tôi được nghe một câu chuyện vô cùng đau lòng: có một bà cụ đã gần đất xa trời, mòn mỏi chờ đợi đứa con trai được cho là “mất tích” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam. Suốt gần 40 năm ròng rã, bà âm thầm, lặng lẽ ngóng trông tin con. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, tâm nguyện duy nhất của bà chỉ là mong nhận được hai chữ “liệt sỹ” cho đứa con trai yêu quý – người đã rời vòng tay mẹ ra đi mà mãi chưa thấy trở về…
Thời điểm đó, chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm. Chẳng lẽ con bà đang làm một nhiệm vụ đặc biệt phải “mai danh ẩn tích”, hay đã bị kẻ thù bắt giữ rồi thủ tiêu, hoặc vì một lý do đặc biệt nào khác… Nếu còn sống, năm ấy anh cũng đã ngoài 60 tuổi. Tôi định bụng sẽ đến gặp bà để hỏi xem liệu con trai bà có phải là người mang cái tên mà tôi biết chắc chắn đã hy sinh hay không. Nhưng sau khi tìm hiểu và hỏi thăm những người có trách nhiệm ở địa phương, tôi nhận ra đó không phải là anh.
Những trường hợp đau thương như vậy trong chiến tranh có rất nhiều. Biết đâu trong số những quân nhân từng bị coi là “mất tích” ấy, có nhiều người trong chúng ta biết rõ họ đang nằm lại ở đâu, ngã xuống trong hoàn cảnh nào… nhưng vì thời gian cứ trôi đi mà chúng ta chưa kịp nói ra. Liệt sỹ dưới đây liệu có nằm trong số đó? Nếu ai biết thân nhân của anh ở đâu, xin hãy chỉ giùm. Anh đã hy sinh trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, để lại trong tôi ký ức không bao giờ phai nhạt.
Trận oanh tạc dữ dội năm 1966 tại thung lũng An Lão
Vào mùa khô thứ hai (năm 1966 – 1967), đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai điên cuồng đẩy mạnh các cuộc phản công chiến lược nhằm giành thắng lợi quyết định cho học thuyết “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam. Năm ấy, Đại đội Công binh thuộc Sư đoàn 3 (Đoàn Sao Vàng, Quân khu 5) đóng quân tại khu vực xóm Mít, xóm Tranh ở phía Tây sông An Lão, nay thuộc địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Một buổi sáng tháng 10 năm 1966, như thường lệ, phân đội Công binh do tôi khi đó là Phó trung đội trưởng trực tiếp chỉ huy, đang triển khai đội hình ven bìa rừng để huấn luyện quân sự. Bãi tập là một khoảng đất trống nằm dưới chân đồi, đoạn giữa xóm Mít và xóm Tranh. Phía đông trước mặt là những thửa ruộng nước với những dải lúa đang thì con gái xanh mướt. Phía tây dựa lưng vào sườn đồi thuộc dãy núi Hòn Chè. Sát cạnh bãi tập về hướng nam có những khối đá lớn chồng lên nhau như những thớt trâu, tạo thành một hang đá tự nhiên có thể chứa được 3 – 4 người, tuy ngồi bên trong nhìn lên vẫn thấy khoảng trời lộ ra. Trên nóc hang, một cây bồ đề cổ thụ bám chặt rễ vào các kẽ đá, buông rủ xuống tua tủa. Tại đây, người dân địa phương tận dụng những khoảnh đất trống dưới chân núi để trồng khoai lang, khoai mì, khoai sọ. Đây là vùng đất đã được giải phóng từ năm 1965.
Hôm đó, chúng tôi tổ chức huấn luyện khoa mục “Khắc phục vật cản trong chiến đấu tiến công”, bài “Bộc phá liên tục”. Khi buổi huấn luyện đang diễn ra thì một chiếc máy bay trinh sát L19 (thường gọi là chiếc “đầm già”) từ hướng Bồng Sơn bay tới. Khi vừa qua khỏi xóm Mít, chiếc L19 bất ngờ vòng trở lại, hạ thấp độ cao rồi phóng một quả rốc-két khói hỏa mù xuống thẳng bãi tập của chúng tôi. Một cột khói trắng xóa bùng lên, cùng lúc đó là tiếng rít xé tai của máy bay phản lực từ xa lao tới. Linh cảm thấy hiểm họa đang cận kề, tôi lập tức ra lệnh cho phân đội tản ra tìm nơi ẩn nấp.
Thế nhưng tất cả đã không kịp. Nhiều chiến sỹ phải nằm bẹp dí giữa những luống khoai lang. Tôi nằm cách hang đá khoảng 10 mét. Đồng chí Nguyễn Minh Hiển nhanh chân hơn nên đã kịp chạy vào ẩn nấp phía trong hang đá. Đúng lúc đó, hai chiếc phản lực nhào xuống trút bom dữ dội. Một quả bom napalm sáng loáng phản chiếu ánh mặt trời rơi trúng ngay nóc hang đá. Một quầng lửa đỏ đậm đặc bùng lên, trùm kín toàn bộ hang. Đồng chí Hiển đã hy sinh trong ngọn lửa napalm hung tàn ấy…
Khi tiếng máy bay địch khuất hẳn sau rặng núi phía đông, chúng tôi vội vã lao vào cứu bạt. Vất vả lắm anh em mới đưa được thi thể cháy đen, co quắp của đồng chí Hiển ra ngoài và tổ chức mai táng chu đáo cho anh ở một địa điểm gần đó. Sự hy sinh đau đớn, xót xa của người đồng đội trẻ lúc bấy giờ là một trong vô vàn những vết thương rỉ máu của người lính thời chiến.
Người đồng đội viêm amidan hay cười và những địa danh không thể quên
Đã gần 40 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in từng chi tiết nhỏ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của Hiển. Anh là người bạn thân thiết, cùng trung đội, cùng đại đội và nhập ngũ cùng ngày với tôi. Hiển rất vui tính, sống chan hòa và luôn hết lòng vì đồng đội. Hồi đó, anh bị chứng viêm amidan mãn tính, cứ mỗi lần thời tiết thay đổi là lại ho sặc sụa.
Khổ nhất là những đêm chúng tôi phải vượt đường số 1 xuống các xã vùng đông để nhận gạo và thực phẩm tiếp tế đưa lên căn cứ. Khi đi qua những khu vực địch hay phục kích hoặc men theo rìa các ấp chiến lược, chỉ một tiếng động nhỏ phát ra cũng có thể đe dọa đến tính mạng của cả đơn vị. Thế nhưng thỉnh thoảng Hiển lại không kìm được cơn ho và tiếng khạc nhổ, khiến anh em đi cùng nhiều phen nổi gai ốc. Bản thân Hiển cũng vô cùng ái ngại và phiền lòng với đồng đội.
Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn tiếc nuối vì không rõ chính xác quê quán của Hiển ở đâu. Ngày ấy tuy thân thiết là vậy, nhưng giữa mưa bom bão đạn, chúng tôi chưa có dịp hỏi sâu về quê quán của nhau, hoặc giả có biết thì giữa hàng trăm người lính đi qua đời mình, làm sao trí nhớ có thể lưu giữ hết được. Nhưng tôi chắc chắn một điều: Hiển được sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Nghệ An hoặc Hà Tĩnh (mà thời kỳ đó gọi chung là tỉnh Nghệ Tĩnh).
Đã nhiều năm trôi qua tôi chưa có cơ hội trở lại nơi Hiển ngã xuống. Mảnh đất ấy đã thấm đẫm máu xương của biết bao đồng chí, đồng đội thân yêu trong những giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến: Đại đội trưởng Lê Xuân Chi, Chủ nhiệm Công binh Trần Khánh Tường, trinh sát Hồ Huy Liễu, chiến sỹ Trần Sỹ Mỹ, Trần Siêu, Chính trị viên Tương và rất nhiều anh em khác…
Trong chuyến hành trình trở lại chiến trường xưa vào ngày 30 tháng 11 năm 2006, tôi đã gặp lại đồng chí Đoàn Như Hưng – một cựu chiến binh thuộc Đại đội Công binh năm xưa, hiện đang sinh sống tại thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Gặp lại Hưng, ký ức về những năm tháng gian khổ, ác liệt trên vùng đất đầy bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ lại ùa về vẹn nguyên. Những địa danh quen thuộc khắc sâu trong tâm khảm người lính Sư đoàn 3 Sao Vàng hiện ra: xóm Tranh, xóm Mít, Vạn Tín, Tân Sơn, Vạn Trung, Châu Sơn, xóm Ghềnh, Hóc Đèn, Vĩnh Đức…
Tôi đứng lặng người thật lâu nơi đầu cầu Vạn Trung bắc qua sông An Lão, ngước mắt nhìn lên dãy Hòn Chè và con đường đất đỏ uốn lượn chạy xuống chân núi. Nơi đó có cái hang đá mà liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển đã ngã xuống vì quả bom napalm oan nghiệt. Và cũng chính trên con đường ấy, Hồ Huy Liễu và Trần Sỹ Mỹ đã anh dũng chiến đấu với giặc đến hơi thở cuối cùng khi đang ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất đời người. Các anh đã mãi mãi gửi lại hương hồn nơi đất mẹ Bình Định.
Lời nhắn gửi tìm thân nhân liệt sỹ
Hôm gặp mặt, đồng chí Đoàn Như Hưng có chia sẻ với tôi một thông tin quan trọng: “Hài cốt của Nguyễn Minh Hiển cùng các đồng chí nói trên hiện đã được quy tập trang trọng về Nghĩa trang liệt sỹ xã Ân Hảo!”
Không biết gia đình và người thân của liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển đã nhận được thông tin này chưa? Qua bài viết này, kính mong hương hồn đồng chí dẫn lối và kính mong bạn đọc gần xa, ai biết thông tin về người thân, gia đình của Liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển (quê Nghệ Tĩnh cũ, hy sinh tháng 10/1966 tại Hoài Ân, Bình Định) ở đâu, xin chỉ dùm để gia đình có thể biết được nơi an nghỉ yên bình của anh.
Trong một lần về thăm quê vào năm 2006, tôi được nghe một câu chuyện vô cùng đau lòng: có một bà cụ đã gần đất xa trời, mòn mỏi chờ đợi đứa con trai được cho là “mất tích” trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước ở miền Nam. Suốt gần 40 năm ròng rã, bà âm thầm, lặng lẽ ngóng trông tin con. Trước khi nhắm mắt xuôi tay, tâm nguyện duy nhất của bà chỉ là mong nhận được hai chữ “liệt sỹ” cho đứa con trai yêu quý – người đã rời vòng tay mẹ ra đi mà mãi chưa thấy trở về…
Thời điểm đó, chiến tranh đã lùi xa hơn 30 năm. Chẳng lẽ con bà đang làm một nhiệm vụ đặc biệt phải “mai danh ẩn tích”, hay đã bị kẻ thù bắt giữ rồi thủ tiêu, hoặc vì một lý do đặc biệt nào khác… Nếu còn sống, năm ấy anh cũng đã ngoài 60 tuổi. Tôi định bụng sẽ đến gặp bà để hỏi xem liệu con trai bà có phải là người mang cái tên mà tôi biết chắc chắn đã hy sinh hay không. Nhưng sau khi tìm hiểu và hỏi thăm những người có trách nhiệm ở địa phương, tôi nhận ra đó không phải là anh.
Những trường hợp đau thương như vậy trong chiến tranh có rất nhiều. Biết đâu trong số những quân nhân từng bị coi là “mất tích” ấy, có nhiều người trong chúng ta biết rõ họ đang nằm lại ở đâu, ngã xuống trong hoàn cảnh nào… nhưng vì thời gian cứ trôi đi mà chúng ta chưa kịp nói ra. Liệt sỹ dưới đây liệu có nằm trong số đó? Nếu ai biết thân nhân của anh ở đâu, xin hãy chỉ giùm. Anh đã hy sinh trong một hoàn cảnh vô cùng đặc biệt, để lại trong tôi ký ức không bao giờ phai nhạt.
Trận oanh tạc dữ dội năm 1966 tại thung lũng An Lão
Vào mùa khô thứ hai (năm 1966 – 1967), đế quốc Mỹ và chính quyền tay sai điên cuồng đẩy mạnh các cuộc phản công chiến lược nhằm giành thắng lợi quyết định cho học thuyết “Chiến tranh cục bộ” ở miền Nam Việt Nam. Năm ấy, Đại đội Công binh thuộc Sư đoàn 3 (Đoàn Sao Vàng, Quân khu 5) đóng quân tại khu vực xóm Mít, xóm Tranh ở phía Tây sông An Lão, nay thuộc địa bàn huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định.
Một buổi sáng tháng 10 năm 1966, như thường lệ, phân đội Công binh do tôi khi đó là Phó trung đội trưởng trực tiếp chỉ huy, đang triển khai đội hình ven bìa rừng để huấn luyện quân sự. Bãi tập là một khoảng đất trống nằm dưới chân đồi, đoạn giữa xóm Mít và xóm Tranh. Phía đông trước mặt là những thửa ruộng nước với những dải lúa đang thì con gái xanh mướt. Phía tây dựa lưng vào sườn đồi thuộc dãy núi Hòn Chè. Sát cạnh bãi tập về hướng nam có những khối đá lớn chồng lên nhau như những thớt trâu, tạo thành một hang đá tự nhiên có thể chứa được 3 – 4 người, tuy ngồi bên trong nhìn lên vẫn thấy khoảng trời lộ ra. Trên nóc hang, một cây bồ đề cổ thụ bám chặt rễ vào các kẽ đá, buông rủ xuống tua tủa. Tại đây, người dân địa phương tận dụng những khoảnh đất trống dưới chân núi để trồng khoai lang, khoai mì, khoai sọ. Đây là vùng đất đã được giải phóng từ năm 1965.
Hôm đó, chúng tôi tổ chức huấn luyện khoa mục “Khắc phục vật cản trong chiến đấu tiến công”, bài “Bộc phá liên tục”. Khi buổi huấn luyện đang diễn ra thì một chiếc máy bay trinh sát L19 (thường gọi là chiếc “đầm già”) từ hướng Bồng Sơn bay tới. Khi vừa qua khỏi xóm Mít, chiếc L19 bất ngờ vòng trở lại, hạ thấp độ cao rồi phóng một quả rốc-két khói hỏa mù xuống thẳng bãi tập của chúng tôi. Một cột khói trắng xóa bùng lên, cùng lúc đó là tiếng rít xé tai của máy bay phản lực từ xa lao tới. Linh cảm thấy hiểm họa đang cận kề, tôi lập tức ra lệnh cho phân đội tản ra tìm nơi ẩn nấp.
Thế nhưng tất cả đã không kịp. Nhiều chiến sỹ phải nằm bẹp dí giữa những luống khoai lang. Tôi nằm cách hang đá khoảng 10 mét. Đồng chí Nguyễn Minh Hiển nhanh chân hơn nên đã kịp chạy vào ẩn nấp phía trong hang đá. Đúng lúc đó, hai chiếc phản lực nhào xuống trút bom dữ dội. Một quả bom napalm sáng loáng phản chiếu ánh mặt trời rơi trúng ngay nóc hang đá. Một quầng lửa đỏ đậm đặc bùng lên, trùm kín toàn bộ hang. Đồng chí Hiển đã hy sinh trong ngọn lửa napalm hung tàn ấy…
Khi tiếng máy bay địch khuất hẳn sau rặng núi phía đông, chúng tôi vội vã lao vào cứu bạt. Vất vả lắm anh em mới đưa được thi thể cháy đen, co quắp của đồng chí Hiển ra ngoài và tổ chức mai táng chu đáo cho anh ở một địa điểm gần đó. Sự hy sinh đau đớn, xót xa của người đồng đội trẻ lúc bấy giờ là một trong vô vàn những vết thương rỉ máu của người lính thời chiến.
Người đồng đội viêm amidan hay cười và những địa danh không thể quên
Đã gần 40 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ như in từng chi tiết nhỏ trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của Hiển. Anh là người bạn thân thiết, cùng trung đội, cùng đại đội và nhập ngũ cùng ngày với tôi. Hiển rất vui tính, sống chan hòa và luôn hết lòng vì đồng đội. Hồi đó, anh bị chứng viêm amidan mãn tính, cứ mỗi lần thời tiết thay đổi là lại ho sặc sụa.
Khổ nhất là những đêm chúng tôi phải vượt đường số 1 xuống các xã vùng đông để nhận gạo và thực phẩm tiếp tế đưa lên căn cứ. Khi đi qua những khu vực địch hay phục kích hoặc men theo rìa các ấp chiến lược, chỉ một tiếng động nhỏ phát ra cũng có thể đe dọa đến tính mạng của cả đơn vị. Thế nhưng thỉnh thoảng Hiển lại không kìm được cơn ho và tiếng khạc nhổ, khiến anh em đi cùng nhiều phen nổi gai ốc. Bản thân Hiển cũng vô cùng ái ngại và phiền lòng với đồng đội.
Cho đến tận bây giờ, tôi vẫn tiếc nuối vì không rõ chính xác quê quán của Hiển ở đâu. Ngày ấy tuy thân thiết là vậy, nhưng giữa mưa bom bão đạn, chúng tôi chưa có dịp hỏi sâu về quê quán của nhau, hoặc giả có biết thì giữa hàng trăm người lính đi qua đời mình, làm sao trí nhớ có thể lưu giữ hết được. Nhưng tôi chắc chắn một điều: Hiển được sinh ra và lớn lên ở mảnh đất Nghệ An hoặc Hà Tĩnh (mà thời kỳ đó gọi chung là tỉnh Nghệ Tĩnh).
Đã nhiều năm trôi qua tôi chưa có cơ hội trở lại nơi Hiển ngã xuống. Mảnh đất ấy đã thấm đẫm máu xương của biết bao đồng chí, đồng đội thân yêu trong những giai đoạn khốc liệt nhất của cuộc chiến: Đại đội trưởng Lê Xuân Chi, Chủ nhiệm Công binh Trần Khánh Tường, trinh sát Hồ Huy Liễu, chiến sỹ Trần Sỹ Mỹ, Trần Siêu, Chính trị viên Tương và rất nhiều anh em khác…
Trong chuyến hành trình trở lại chiến trường xưa vào ngày 30 tháng 11 năm 2006, tôi đã gặp lại đồng chí Đoàn Như Hưng – một cựu chiến binh thuộc Đại đội Công binh năm xưa, hiện đang sinh sống tại thôn Vạn Trung, xã Ân Hảo, huyện Hoài Ân, tỉnh Bình Định. Gặp lại Hưng, ký ức về những năm tháng gian khổ, ác liệt trên vùng đất đầy bom đạn và chất độc hóa học của Mỹ lại ùa về vẹn nguyên. Những địa danh quen thuộc khắc sâu trong tâm khảm người lính Sư đoàn 3 Sao Vàng hiện ra: xóm Tranh, xóm Mít, Vạn Tín, Tân Sơn, Vạn Trung, Châu Sơn, xóm Ghềnh, Hóc Đèn, Vĩnh Đức…
Tôi đứng lặng người thật lâu nơi đầu cầu Vạn Trung bắc qua sông An Lão, ngước mắt nhìn lên dãy Hòn Chè và con đường đất đỏ uốn lượn chạy xuống chân núi. Nơi đó có cái hang đá mà liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển đã ngã xuống vì quả bom napalm oan nghiệt. Và cũng chính trên con đường ấy, Hồ Huy Liễu và Trần Sỹ Mỹ đã anh dũng chiến đấu với giặc đến hơi thở cuối cùng khi đang ở độ tuổi thanh xuân đẹp nhất đời người. Các anh đã mãi mãi gửi lại hương hồn nơi đất mẹ Bình Định.
Lời nhắn gửi tìm thân nhân liệt sỹ
Hôm gặp mặt, đồng chí Đoàn Như Hưng có chia sẻ với tôi một thông tin quan trọng: “Hài cốt của Nguyễn Minh Hiển cùng các đồng chí nói trên hiện đã được quy tập trang trọng về Nghĩa trang liệt sỹ xã Ân Hảo!”
Không biết gia đình và người thân của liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển đã nhận được thông tin này chưa? Qua bài viết này, kính mong hương hồn đồng chí dẫn lối và kính mong bạn đọc gần xa, ai biết thông tin về người thân, gia đình của Liệt sỹ Nguyễn Minh Hiển (quê Nghệ Tĩnh cũ, hy sinh tháng 10/1966 tại Hoài Ân, Bình Định) ở đâu, xin chỉ dùm để gia đình có thể biết được nơi an nghỉ yên bình của anh.
Đại tá, Nhà văn Nguyễn Hồng