Có một cơn dông bất ngờ quét ngang qua cửa sổ một ngôi nhà lớn. Ngôi nhà ấy bao năm nay kín cổng cao tường, được xem là chốn thâm nghiêm, là biểu tượng của sự mô phạm về đạo đức. Ngôi nhà ấy được bao thế hệ xây đắp bằng trí tuệ, tình yêu thương, nhân văn, nhân ái. Vâng, đó là một ngôi trường ở một thành phố trung du miền núi – trường phổ thông trung học Đại Hùng. Đó là một trường học có uy tín, có danh tiếng, thầy ra thầy, trò ra trò. Thầy về đây là thầy giỏi, được chọn lọc. Trò học ở đây với điểm đầu vào khá cao và sau ba năm học thì cầm chắc vé vào đại học. Thế cho nên Đại Hùng mới là trường chuyên, trường điểm, là ước mơ của bao thế hệ học trò mong muốn được ghi tên mình.
Thật tiếc, có một cơn dông đã ập đến. Cơn dông đủ mạnh để tạo rung chấn cho ngôi trường, cho uy tín của môi trường sư phạm. Cơn dông có sức gió chấn động trong ngành giáo dục cả nước. Đó là những vòng xoáy nghiệt ngã đổi tình lấy tiền, đổi tình lấy chức tước. Vì tham tiền, tham danh mà bán cả tình bạn, tình yêu và lương tâm nhà giáo. Cũng may, cơn dông ấy chỉ quét ngang qua thôi. Chưa đổ nhà, chưa sụp đổ hoàn toàn nhưng dư chấn của nó thì không hề nhẹ. “Vụ án một tỉ tư” đổi tiền lấy điểm, mà chỉ là điểm phúc khảo bài thi để đủ số điểm vào một Trường Đại học Lớn. Ấy là cái lý để nhà văn Phan Mai Hương cân nhắc khi không đặt tên tiểu thuyết bằng cái tên ngắn gọn là Cơn giông.
Trong vòng mươi năm trở lại đây, những chuyện tham nhũng lớn đến tham nhũng vặt trong ngành giáo dục đã bị phanh phui. Chuyện nâng điểm thi lên bất thường, lên cao chót vót xảy ra ở một số tỉnh miền núi. Đương nhiên, nâng điểm cho ai, “giá” mỗi điểm bao nhiêu thì không phải chuyện xòe bàn tay ra mà đếm được. Nó có những lối đi vô cùng lắt léo, ma quỷ. Báo chí đã thông tin khá cụ thể, phân tích sâu sắc hiện tượng đáng buồn này. Trong văn học, Cơn dông quét ngang qua cửa sổ là một trong những cuốn tiểu thuyết đề cập trực diện chuyện mua bán vừa tinh vi vừa trắng trợn này. Tuy viết về một trường chuyên của tỉnh nhưng đó là một mắt xích trong dây chuyền, nó liên quan đến cả một đường dây cơ quan công quyền của tỉnh, của Bộ, của các trường đại học liên quan.
Vụ án tình-tiền-điểm-chức-biên chế không chỉ có “vụ án một tỉ tư” mà còn nhiều cái trăm ngàn, trăm triệu khác, bằng nhiều thủ đoạn, mà đơn giản nhất là “rung cây dọa bọ xít”. Tất cả đều được ngã giá. Kể cả khi đã bị lộ, tưởng xôi hỏng bỏng không, lại chính là tiền “chạy từ két sắt nọ sang két sắt kia” mà đã vô hiệu hóa cả những ông quan tha hóa vốn lâu nay đạo mạo, chuyên rao giảng về đức.
Các nhân vật chính của tiểu thuyết là cô giáo dạy văn Thu Minh – sau này lên chức Phó Hiệu trưởng – Hiệu trưởng Hoàng, cô giáo Quý cũng là giáo viên tổ văn – bạn của Minh từ thuở ấu thơ, một người trung thực, thẳng thắn. Các thầy Phó Hiệu trưởng Huyên, cô Trâm tổ tưởng tổ văn, Thâu giám đốc Sở Giáo dục… đều vừa là người chứng kiến, vừa là nạn nhân trong các dây chuyền do Hoàng khởi động và điều khiển. Xây dựng nhân vật là cốt lõi của tiểu thuyết, tạo ra sự sống động thông qua ngoại hình, tâm lý, hành động và ngôn ngữ đặc trưng, ở đây là các thầy cô giáo. Nhân vật cần có chiều sâu, sự mâu thuẫn nội tâm. “Nhân vật điển hình” (Hoàng, Minh, Quý, Trâm) đại diện cho một lớp giáo viên thời kinh tế thị trường, trung thực có, thực dụng có, gian tham, ma quái, ba phải cũng có. Cơ hội mở ra và cũng lắm, áp lực về nghề, về cuộc sống mưu sinh cũng nhiều. Quá trình này bao gồm việc định hình, phát triển nhân vật qua các tình huống truyện.
Ấn tượng nhất đối với tôi là các nhân vật trong tiểu thuyết rất thật. Cảm giác rằng cứ nhắm mắt lại là thấy họ đi lại trước mắt, giọng nói khi cao ngạo, chuẩn chỉ, lúc đe nẹt, vuốt ve, õng ẹo, trơn tuột, vang vang bên tai. Và vung tay lên là có thể chạm vào người họ. Một cô Minh xinh đẹp, “hai quả mông tròn vo”, da trắng như mỡ đông, õng ẹo, dáng đi lượn lờ như con rắn, trong con mắt Quý thì Minh chả khác gì “con bọ nẹt xanh lét”. Một giáo Hoàng trơn tru khi nói về sứ mệnh của nhà trường, của “những người lái đò”, rằng: “Trường Đại Hùng của chúng ta phải trở thành một trung tâm chất lượng cao của tỉnh và khu vực miền núi, xứng đáng với niềm tin của bà con nhân dân các dân tộc trong tỉnh nhà. Phải làm cho trường tỏa sáng trong thời đại mới”. Một giáo Hoàng “giọng đê mê ẩm ướt”, với những cuộc mây mưa với người tình kéo dài hàng nửa ngày trong phòng nghỉ khách sạn Hoàng Hôn… Nhà văn đã dùng đúng ngôn ngữ trong môi trường sư phạm, cụ thể là ngôi trường thành phố miền núi. Chỉ có thể là cô giáo Phan Mai Hương, người đã sống cùng, dạy cùng mới lột tả được chính xác những hành động cao cả, những trò lố bịch, thấp hèn.
Cái duyên của câu chuyện vụ án tình-tiền là ở chỗ này chăng, tác giả đã tạo nên các điểm nhấn qua các xung đột và cách giải quyết xung đột ấy. Cố nhiên, đó là cái xung đột được chọn lựa để làm nổi bật bản chất vấn đề – cái tham, mục đích lớn nhất của kẻ tha hóa là phải làm sao kiếm được nhiều tiền, thật nhiều tiền. Minh đã “thành công”, là người đầu tiên mua được xe máy xịn, rồi ô tô xịn. Rồi từ tiền để leo lên nấc thang danh vọng, mua dược chức Phó Hiệu trưởng và mơ một ngày không xa sẽ là người đứng đầu 150 giáo viên trường này. Để kiếm được tiền, để mua được chức, Minh đã giở đủ “bài”. Những xung đột trong các lớp truyện cuốn hút người đọc bằng những tình tiết ám ảnh: Cơn ghen của vợ Phó Hiệu trưởng Nguyên, do Minh thêu dệt chuyện Hoàng cặp bồ với cô giáo Quý; ông Trưởng phòng thuế huyện, phụ huynh học sinh đeo khư khư cái balo tiền trên vai, trong đó là một tỉ tư tiền ngân hàng còn nguyên từng buộc mới coóng; giám đốc sở Giáo dục đưa ra cuốn băng ghi âm cuộc mặc cả tiền nong giữa Minh và phụ huynh; cuộc bỏ phiếu tín nhiệm Phó Hiệu trưởng Thu Minh, với số phiếu thật bị tiêu hủy, biên bản kiểm phiếu hoàn toàn gian dối, từ giáo viên thường, Minh “ngồi tót sỗ sàng” ghế trên; cuộc đấu tranh tư tưởng với chính mình của cô giáo Quý, trước những lời dụ dỗ và đe nẹt của thanh sở, ký hay không ký nâng điểm phúc khảo của học sinh từ 2,5 lên 8,5 điểm v.v..
Những tình huống thót tim ấy đã được khéo léo giải quyết, có những khi cái xấu, cái ác tạm thời thắng thế. Nhưng rồi cuối cùng sự gian trá, lừa lọc đã hiện nguyên hình. Hiện tượng chỉ tạm thời xuyên tạc bản chất. Chỉ có sự thật mới chứng minh được sự thật. Nghệ thuật tạo và xử lý xung đột là ở chỗ tác giả đã tạo ra các xung đột ngoại tâm, nghĩa là nhân vật với các yếu tố từ bên ngoài, nhân vật với nhân vật. Rồi đến mâu thuẫn giữa nhân vật chính và phản diện, hoặc hai người có mục tiêu trái ngược nhau (Minh và Quý). Xung đột giữa nhân vật với bạn nghề, phụ huynh và các mối quan hệ xã hội – ở đây điển hình là cặp đôi Hoàng và Minh đã bẻ cong, phớt lờ các quy chuẩn, luật lệ. Các xung đột được tăng dần kịch tính, ban đầu là tình tiết nhỏ, sau đó phát triển lớn dần, mang tính đối đầu.
Suy cho cùng mọi cuộc đấu tranh trong xã hội đều hướng tới sự lập lại kỷ cương, phép nước, chỉ ra những lỗ hổng, khiếm khuyết của thể chế, hướng tới hoàn thiện, bồi đắp lý tưởng, nhân cách con người, đặc biệt là nhân cách của những người thầy. Ngòi bút tác giả đã rất chừng mực, tỉnh táo, không sa vào những tình tiết dễ “ăn khách”. Những tình tiết liên quan đến quấy rối tình dục, quan hệ ngoài luồng hay đời sống riêng tư được thể hiện tinh tế, hạn chế lạm dụng yếu tố tình dục trong miêu tả.
***
Hướng thiện, ý tưởng thì như thế, nhưng kể chuyện gì đây? Nhà văn Phan Mai Hương đã đưa bạn đọc đến hồi kết có hậu một cách tự nhiên, có phần bất ngờ. Đó là sự tế nhị của đại úy Thiện cảnh sát điều tra khi phải xét hỏi chính Hiệu trưởng Hoàng từng là thầy giáo cũ của anh. Cuộc sinh nhật năm nào của con trai Hoàng là bạn học của Thiện gợi nhớ hình ảnh một người thầy, người cha lịch lãm, ân cần. Sông có khúc người có lúc. Không có cánh cửa nào khép lại vĩnh viễn.
Đoạn kết tiểu thuyết là hình ảnh hai người đứng ở hai thái cực gặp nhau để nhìn về một điểm: hướng thiện. Không phải là Hoàng và Minh mà là Hoàng và Quý. Câu nói của cô giáo Quý như khoan, như xoáy vào óc Hoàng: “Cay đắng làm nền cho những tháng ngày đã sống, cuộc đời dầy lên thì cay đắng cũng dầy lên. Và hình như nó làm cho ta nhận ra ngoài cay đắng còn có ngọt ngào”. Chân lý ở trước mặt, hạnh phúc trong tầm tay. Đúng như nhà văn Nga Fyodor Dostoevsky (1821–1881). từng nói: “ Cái đẹp ở đây không phải mỹ học thuần túy, mà là vẻ đẹp đạo đức – khả năng hướng thiện của con người, ngay cả trong tăm tối nhất”. Còn trong văn học Việt Nam, nhà văn Nam Cao, trong truyện ngắn Trăng sáng (1943) đã viết: “Nghệ thuật không cần phải là ánh trăng lừa dối, nghệ thuật không nên là ánh trăng lừa dối. Nghệ thuật có thể chỉ là tiếng đau khổ kia, thoát ra từ những kiếp sống lầm than”. Đây có thể coi là tuyên ngôn nghệ thuật của trường phái hiện thực, dứt khoát từ bỏ chủ nghĩa lãng mạn.
Dông bão đã đi qua. Mát lành ngọn gió. Nắng sáng. Mây thanh tân…
Gấp cuốn sách lại, dư ba còn mãi.
Hải Đường
(Đọc tiểu thuyết Cơn dông quét ngang qua cửa sổ của Phan Mai Hương
NXB Công an Nhân dân, 2025)