Tôi bấm số gọi cho anh lúc ánh nắng tháng Bảy năm 2026 đã cạn dần trên những vòm cây Hà Nội. Làn ranh giữa ngày và đêm nhập nhằng, thứ ánh sáng hoang hoải tiếc nuối còn sót lại nơi cuối chiều như khơi gợi nét buồn vô cớ. Đầu dây bên kia, giọng anh vang lên – có phần hân hoan hơn mọi ngày. Anh bảo tôi đến ngay.
Dạo này, nhóm nữ dịch giả Hà Nội cùng vài bạn văn thân thiết vẫn thầm thì bảo nhau phải ghé thăm anh thường xuyên hơn. Căn bệnh nan y ác nghiệt mà anh đang đối mặt chẳng hề biết đùa. Sự nghiệt dã của thời gian và số phận cứ rình rập bên thềm cửa. Bởi thế, dù đi đâu, làm gì, cứ chừng một tuần hay mươi lăm ngày, tôi lại quay về ghé thăm anh như một thói quen, một lời cam kết thầm lặng giữa những người bạn văn.
Hôm nay, khi tôi đứng trước cửa tầng hai số 100 Yết Kiêu (HN) và gõ nhè nhẹ, từ bên trong vẫn vang ra tiếng anh quen thuộc:
-Vào đi!
Tôi bước vào. Căn phòng ngập tràn thứ không khí của ngòi bút và màu vẽ, những bản thảo xếp chồng trên xô pha và những toan vẽ chen lối vào. Hữu Ước nằm dài trên chiếc xô pha gối đầu cao. Dáng vẻ trăn trở của một người nghệ sĩ cả đời sống trong giông bão giờ đây thu lại nhỏ bé hơn trước căn bệnh quái ác. Nhìn dáng anh, lòng tôi chợt chùng xuống. Tôi nhẹ nhàng tiến lại gần, ý nhị cất lời hỏi thăm:
– Mấy hôm nay anh có gì vui hơn không?
Anh không nhìn lên ngay, mệt mỏi buông một câu ngập tràn sự cay đắng nhưng bình thản đến lạ:
– Anh mệt lắm, phải uống đến 40 gram thuốc giảm đau rồi…
Con số ấy dội vào lòng tôi một cảm giác xót xa tê dại. 40 gram thuốc giảm đau – thứ năng lượng vay mượn duy nhất để giữ cho một trí tuệ minh mẫn tiếp tục nhịp đập sáng tạo, để ghìm cơn đau xương tủy mà cầm bút viết trên trang văn dang dở. Nhưng chính trong những cơn đau vật vã ấy, anh lại đang chạy đua gắt gao nhất với số phận, đang chiến đấu trên từng trang bản thảo: anh đang viết cuốn tiểu thuyết “Cỏ lông chông”.
Anh chua chát bảo, cánh tay phải của anh đang bị teo cơ dần. Anh vốn chỉ có thói quen viết tay khi sáng tác, nên nỗi sợ hãi lớn nhất lúc này là cánh tay ấy bị liệt hoàn toàn trước khi trang sách cuối cùng kịp khép lại. Anh phải vội vã viết, viết thật nhanh, viết đến đâu đưa ngay cho trợ lý đánh máy đến đó. Anh bảo cuốn sách này anh viết như có thần thánh hay các cụ tổ tiên mách bảo, trợ giúp; anh viết như lên đồng, nhiều lúc tốc độ ngòi bút trên giấy không theo kịp luồng ý nghĩ đang trào ra trong não. Phải tập trung mà chép lại thật nhanh, bởi chỉ cần chậm một nhịp là những mạch văn thần trí ấy biến mất ngay lập tức.
Đó là một tiểu thuyết về chiến tranh – cuốn sách mà anh gửi gắm toàn bộ đức tin và kỳ vọng cuối cùng của đời mình. Anh bảo, cuốn sách này khi xuất bản nhất định khiến những vị tổng thống của các quốc gia hiếu chiến trên thế giới phải cầm lên đọc. Họ phải đọc để thấy sự khốc liệt đến tột cùng, để họ phải ghê sợ thứ cuồng vọng súng đạn mà quyết định dừng bước. Anh phải hoàn thành xong “Cỏ lông chông” thì mới có thể yên tâm mà nhắm mắt.
Nhìn ánh mắt khắc khoải của anh, tôi nén nỗi nghẹn ngào, buông lời an ủi như một cách níu giữ hy vọng:
-Còn lâu anh mới chết. Yên tâm đi!
Anh nhếch môi cười nhẹ, nụ cười của một người đã bước qua hết mọi hỉ nộ ái ố trên đời, nhìn thấu tận đáy sâu của định mệnh:
– Anh bị ung thư, di căn giai đoạn cuối rồi. Không gì thay đổi được đâu…
Tiếng “không gì thay đổi được” thốt ra nhẹ tênh nhưng nặng ngàn cân. Anh không sợ cái chết, anh chỉ tiếc – một niềm tiếc nuối khôn nguôi – là mình không còn có thêm nhiều thời gian để tiếp tục sáng tác.
Dường như có một sự màu nhiệm nào đó mơ hồ nhưng hiện hữu đang bao trùm lấy không gian căn phòng. Khi tôi ngồi xuống, cầm lấy bản thảo phần đầu của tiểu thuyết để đọc, Hữu Ước lặng lẽ đứng dậy. Anh thành kính khấn vái bốn phương trời đất, không trung. Tôi để mặc anh trong thế giới tâm linh thiêng liêng ấy, không cất tiếng hỏi, chỉ tập trung dồn hết tâm trí vào từng dòng chữ trên trang giấy.
Đọc bản thảo, tôi ngỡ ngàng nhận ra lần này anh viết khác hẳn văn phong của cuốn “Suối Cọp” xuất bản 3 năm trước. Một văn phong ám ảnh hơn, giàu triết lý sâu xa, chất văn đậm đặc cùng tiếng nói tự vấn đến gai người. Đặc biệt, anh nhập hẳn vào vai nhân vật chính – một người lính Mỹ. Anh hóa thân trọn vẹn và đớn đau đến mức từng góc khuất của sự thật cứ hiện ra nhức nhối: sự thật như cát, như máu, như cỏ lông chông, như nỗi đau và sự tàn ác đang hiển hiện trần trụi ngay trước mắt người đọc.
Thời gian qua, để có kinh phí chữa trị và thực hiện tâm nguyện mở rộng bảo tàng, phòng tranh tại Công viên Ước, Hữu Ước đã bán đi căn nhà số 88 trên phố H. Anh gom góp chút sức lực còn lại và tài sản cuối đời không phải để vun vén cho riêng mình, mà để dâng hiến. Hơn 200 bức tranh mới đã được anh gấp rút hoàn thành và đưa lên phòng triển lãm.
– Tất cả chỉ để dâng hiến cho đời, cho xã hội mà thôi… – Anh bộc bạch.
Tôi nhìn anh và tin trọn vẹn vào tâm nguyện ấy. Hữu Ước là một người TỬ TẾ hiếm hoi còn sót lại – một kiếp người dám sống bản lĩnh, tự do, ngang tàng nhưng ngập tràn sự chân thành. Đã từng giữ những vị trí rất cao, từng có kinh tế dư dả, nhưng anh chưa từng để quyền lực hay tiền bạc thao túng, làm hoen ố nhân cách của mình. Anh có thể đánh đổi nhiều thứ, nhưng chữ “Tử tế” thì anh giữ lại nguyên vẹn như một thiên mệnh.
Anh cho biết, tiểu thuyết “Cỏ lông chông” sẽ hoàn thành trong năm 2026 này, sau đó được dịch sang tiếng Anh và phát hành tại Mỹ dưới sự đảm nhiệm biên tập của nhà văn cựu chiến binh Wayne Karlin. Anh hy vọng sách sẽ phát hành toàn cầu vào năm 2027, để cảnh tỉnh lãnh đạo các nước đang tham chiến về hậu quả khủng khiếp của chiến tranh, về sự bóp nghẹt nhân tính không còn có thể đi xa hơn được nữa. Đã đến lúc phải lập tức dừng lại, thời gian không còn cho sửa chữa và cứu rỗi con người…
Chiều tháng Bảy buông với cơn mưa xối xả ngoài cửa sổ. Cơn mưa dường như không nỡ chen vào giữa không gian đập nhẹ nhịp thở của một tâm hồn chỉ còn lại mong manh. Hữu Ước vẫn ở đó, tập trung níu từng hơi thở để viết về loài cỏ lông chông trăn trở lăn qua bão cát của số phận, kiên cường gieo những hạt mầm tử tế và nhân văn vào lòng cuộc đời, cho đến tận hơi thở cuối cùng…
KBH