Tác giả: Lê Tự Minh
(Ký ức thời bom đạn)
Tháng Bảy (AL), sắp tới ngày giỗ của chị Long, tôi lại xót xa nhớ tới người chị mà tôi vô cùng yêu thương.
Ông bà ngoại tôi sinh được năm người con, trong đó bốn người sống được. Dì Sâm là chị cả, lấy chồng ở làng bên. Dì sinh được 3 người con. Cậu Long là con thứ hai, vợ chồng cậu có hai người con: chị Long và anh Lâm. Cậu Tràng, người anh kế của mẹ tôi, có 8 người con. Mẹ tôi là con út.
Bà ngoại mất khi mẹ mới tám tháng tuổi, mẹ phải bú nhờ dì Sâm để sống. Một bên vú, dì dành cho chị Vinh, người con thứ hai của dì, sinh cùng năm với mẹ; bên kia dành cho đứa em gái mất mẹ. Sữa của dì không đủ cho hai đứa trẻ. Những tiếng khóc gào vì đói sữa làm dì rơi nước mắt.
Lớn lên, mẹ tôi rất thương dì. Ông ngoại lại mất khi mẹ còn quá nhỏ. Các anh chị ôm mẹ khóc, ai cũng muốn được nuôi em, nhưng rồi mẹ tôi về ở với cậu Long. Cậu và mự Long thay cha mẹ nuôi em trong cảnh nghèo túng. Dì Sâm, cậu Tràng mỗi lần nhìn em lại lặng người, dâng trào.
Mẹ lớn lên trong tình yêu thương của các anh chị, rồi lấy chồng, sinh con. Khi tôi hơn 1 tuổi, mẹ sinh em Hoa. Một mình mẹ chật vật vừa lo việc cơ quan, vừa nuôi hai đứa con. Ngày đó, ba tôi được lệnh bí mật vào chiến trường. Khi chiếc xe com-măng-ca chở ông đi qua làng Lượng Xuân, ông nói chú lái xe dừng lại một chút. Ngồi trong xe, ông ngắm nhìn ngôi làng bé nhỏ cách mình khoảng 50 mét, nơi có vợ con đang sống, nhưng ông không dám bước ra khỏi xe. Rồi chiếc xe tiếp tục chạy thẳng về hướng chiến trường trong tâm tư:
– Không biết đi lần này có còn được trở về với vợ con không?
Một mình không kham nổi gánh nặng, mẹ tôi đành gửi tôi cho cậu và mự Long nuôi để trở về cơ quan, tập trung cho công việc và chăm sóc em Hoa. Cậu, mự Long đã từng nuôi mẹ tôi suốt một chặng đường dài, nay lại nuôi tôi. Người trực tiếp chăm sóc tôi là chị Long. Khi ấy, chị khoảng 18-19 tuổi. Chị hiền lành, xinh xắn và giống mẹ tôi. Có lần, nhìn thấy ảnh chị, tôi tưởng đó là ảnh của mẹ.
Ngày ngày, chị cho tôi ăn, tắm rửa cho tôi… Chị làm tất cả công việc của một người mẹ. Thật sự, chị đã trở thành một người mẹ khi còn chưa biết yêu.
Một lần, tôi bị sốt rất cao. Hồi đó, trong các gia đình nông dân không có thuốc kháng sinh hay bất kỳ loại thuốc nào; muốn có thuốc phải tới trạm xá hoặc bệnh viện. Vì thiếu thuốc và thiếu kiến thức y khoa, nhiều người đã phải chết một cách rất oan uổng.
Tôi sốt tới 40,5 độ mà không có lấy một viên thuốc. Chị Long ngồi bên cạnh, lấy khăn lạnh đắp lên trán và quạt cho tôi. Cơn sốt kéo dài, tôi mê man gọi mẹ. Nếu ai chưa từng phải xa mẹ trong những năm tháng tuổi thơ thì khó có thể hiểu được nỗi khát khao có mẹ, được ở gần mẹ của 1 đứa trẻ như tôi ngày ấy.
Có lúc, tôi tưởng mình đang được cầm tay mẹ và gọi:
– Mẹ ơi
Nhưng khi tỉnh lại, tôi lờ mờ nhận ra mình đang cầm tay chị Long. Chị đặt tay lên trán tôi, nước mắt lăn dài.
Cho đến nay, hơn 60 năm trôi qua, tôi vẫn nhớ gương mặt chị Long, mái tóc dài được kẹp gọn phía sau, lặng nhìn tôi, rơi nước mắt…
Theo hướng dẫn của một thầy lang, chị Long đi tìm và hái về những nắm lá. Chị sắc thuốc rất lâu rồi rót ra bát một thứ nước đen kịt. Chị đỡ tôi ngồi dậy và cho tôi uống. Bát thuốc đen ngòm, đắng nghét khiến tôi rùng mình, đẩy ra. Chị Long dỗ dành, cuối cùng tôi cũng uống hết bát nước đen ấy.
Mấy ngày sau, hạ sốt, tôi mở mắt và nhìn thấy chị Long rõ hơn. Chị vừa cười vừa mếu máo ôm đứa em mà chị vừa giành lại được từ tay tử thần.
Biết tin, mẹ tôi mượn xe đạp, tất tả đạp xe về. Mẹ ôm tôi khóc, rồi lại ôm chị Long khóc. Mẹ chỉ ở được một buổi rồi phải đi, vì khi đó tôi đã hết sốt, và em Hoa còn quá nhỏ, không thể gửi cho ai chăm sóc được.
Tôi gào khóc đòi mẹ, chị Long dỗ dành rồi cõng tôi đi nơi khác. Thời gian xa mẹ, tôi luôn theo chị Long, tối đến, nằm ôm chị và gọi mẹ trong mơ.
Rồi cậu tôi mua một con me ( con bò con). Tôi rất vui và thường theo chân anh Cảnh đi chăn me. Ngày đó, cậu Tràng gửi anh Cảnh, người con trai thứ tư của cậu, sang ở với cậu Long; một phần để đỡ việc cho cậu Long, một phần vì nhà cậu Tràng đông con, không đủ ăn, không đủ chỗ ngủ.
Tôi theo anh Cảnh lùa me tới cánh đồng gần làng dì Sâm. Cánh đồng ấy lưu giữ rất nhiều kỷ niệm tuổi thơ của tôi.
Ngày đó, máy bay Mỹ thường thả truyền đơn. Lũ trẻ chúng tôi ùa ra nhặt, thấy những mảnh giấy xanh xanh, đỏ đỏ là thích lắm đưa về nhà chơi. Cậu Tràng biết chuyện, anh Cảnh và tôi bị cậu đánh cho mấy roi xoắn đít.
Khi ấy, cậu Tràng là Chủ tịch xã. Cậu nghiêm lắm.
Những lần, tàu chở hàng vào Nam bị bom Mỹ ném lật nhào. Gạo, thóc, đạn dược, quân nhu… tiếp tế cho chiến trường đổ ra hai bên đường. Cậu huy động người dân khuân vác và cất tạm vào các kho sơ tán. Gọi là kho cho oai, chứ đó chỉ là những căn nhà của hợp tác xã, không vách, không cửa, cũng không có người canh giữ. Vậy mà người dân Lượng Xuân khi đó, dù đói, dù thèm một bữa cơm gạo trắng, vẫn không ai tơ tưởng tới một hạt gạo dành cho chiến trường.
Nghĩa cử ấy bắt nguồn từ tinh thần của dân tộc và từ những người lãnh đạo như cậu của tôi.
Nhưng lũ trẻ chúng tôi thì khác. Không lấy gạo, quần áo…, chúng tôi lại theo mấy anh lớn, ban đêm chui vào kho lấy đạn làm pháo. Chúng tôi vặn đầu đạn ra, bẻ quặp phần trên của vỏ đạn lại để thuốc súng không rơi ra ngoài. Sau đó, lấy mấy cái que, kẹp đầu đạn vừa tháo, cho mũi đầu đạn hướng vào hạt nổ của vỏ đạn, buộc lại, rồi bẻ một cành phi lao nhỏ gắn lên phía trên. Chúng tôi mang ra sân gạch tung lên cao. Khi rơi xuống, đầu đạn nhọn đâm vào hạt nổ, phát ra tiếng nổ vang như pháo. Và tất nhiên, lại bị cậu mắng.
Sau này, cậu Tràng làm Bí thư xã. Cậu nổi tiếng là người cương trực, nghiêm nghị. Dù đã có một người con là liệt sĩ, cậu vẫn đạp xe lên huyện, xin cho người con trai thứ tư vừa nhập học trường y trở về để đi bộ đội, vào chiến trường. Rời mái trường đại học, anh Cảnh vừa đi vừa khóc, nhưng vẫn nghe lời cha lên đường nhập ngũ.
Mẹ tôi kể, nhà cậu nghèo, con đông. Đầu năm học, mự Tràng không có tiền đóng học phí cho các con. Một hôm, chị Quế, người con thứ ba của cậu về xin mẹ tiền đóng học phí. Mự Tràng nói:
– Tau không có tiền. Mi có lấy cái bình vôi thì lấy.
Hôm sau, chị Quế vừa khóc vừa ôm chiếc bình đựng vôi ăn trầu của mự tới nộp học phí cho cô giáo… Vậy mà sau này, chị đã trở thành giảng viên của Trường Đại học Sư phạm Vinh.
Sau này, cấp trên có ý định xây dựng hồ sơ để đề nghị phong tặng danh hiệu Anh hùng cho cậu Tràng, nhưng cậu từ chối. Dù từng bị cậu đánh roi vào đít, nhưng tôi vẫn mãi kính yêu cậu.
Lại quay về chuyện chăn bò.
Khi lớn hơn một chút, tôi được cậu Long cho đi chăn me một mình. Ngày đó, tôi thích cho me ăn cỏ dọc đường tàu. Mỗi khi tàu sắp tới, chúng tôi đặt một cây đinh lên đường ray. Tàu chạy qua, cán cây đinh dẹt ra; chỉ cần mài một chút là thành một con dao nhỏ.
Một lần, lũ trẻ trong thôn chơi trò “ném lô cốt”. Chúng xếp những hòn đá dưới chân đường ray thành một đống cao, gọi là lô cốt, rồi đứng trên đường tàu ném đá xuống. Đống đá đổ thì cả bọn reo lên; sau đó, vài đứa xuống xếp lại đá rồi tiếp tục ném.
Đến lượt tôi xuống xếp đá. Lẽ ra tất cả phải dừng lại và nép sang một bên, nhưng bất ngờ, một hòn đá bay thẳng vào gáy tôi. Tôi gục xuống bất tỉnh giữa tiếng la hét í ới của lũ bạn.
Khi tỉnh dậy, tôi thấy anh Lâm, em trai chị Long đang cõng tôi. Máu từ vết thương tuôn xuống, ướt cả áo tôi và áo anh Lâm. Về tới nhà, chị Long ào ra bế lấy tôi. Tôi nấc lên, ôm chị và gọi:
– Chị Long ơi, em đau quá!
Sau đó là những ngày chị tắm rửa, bôi nước muối và thay băng cho tôi bằng tình thương của một người chị, một người mẹ.
Về anh Lâm, tôi nhớ khi tôi chưa đi học thì anh đã học lớp 10. Có ba kỷ niệm về anh mà tôi nhớ mãi.
Một lần, khi anh bổ củi, tôi nhìn thấy trên bắp đùi anh có một cái bớt đỏ.
Lần khác, tôi chơi trốn tìm với em gái trong nhà cậu Long. Nấp ở đâu em tôi cũng tìm ra. Cuối cùng, tôi chui vào một cái bồ rồi đậy nắp lại. Thật bất ngờ, bên trong bồ chứa đầy khoai lang khô — loại khoai lang được cắt lát rồi phơi qua vài nắng.
Thời đó, khoai lang khô ngon như kẹo, và thật ra làm gì có kẹo mà ăn. Chỉ có khoai lang khô, ngoan thì cậu mự cho một nắm. Ngồi trong bồ khoai lang khô, tôi sung sướng ăn no, mặc cho em gái ở bên ngoài la gọi.
Cuối cùng, mự cũng tìm thấy tôi. Nhìn thằng cháu miệng nhồm nhoàm, trợn mắt không nói được, hai túi quần lại chật ních khoai, mự Long dọa sẽ mách cậu. Tôi hỗn với mự rồi bỏ chạy. Anh Lâm lôi cổ tôi về, đánh cho bốn, năm roi nổi con lươn.
Tôi không giận anh Lâm, nhưng mỗi lần mự ra ngoài, tôi lại lẻn vào mở bồ, nhón một ít khoai lang khô. Có lần, mự Long gọi mà tôi không trả lời được vì trong miệng đang đầy khoai. Mự bắt đầu sinh nghi.
Kỷ niệm thứ ba với anh Lâm là vào một buổi trưa, khi tôi đi học vỡ lòng về, khoảng năm 1965. Tôi thấy cả con đường làng đông nghịt người. Thanh niên trong làng, các bà, các mự đứng kín bờ ao và đường làng.
Anh Lâm và anh Hiến — con dì Sâm — mặc quân phục, trên lưng đeo vòng lá ngụy trang, trông rất oai. Anh Lâm ôm mự Long, anh Hiến ôm dì Sâm. Không khí xung quanh rất vui, vậy mà mự Long và dì Sâm buồn lắm.
Đoàn quân đi rồi, mự và dì Sâm mới bật khóc. Chỉ vài năm sau, hàng chục giấy báo tử bay về ngôi làng Lượng Xuân bé nhỏ ấy, trong đó có tên anh Lâm và anh Hiến.
Mự Long khóc đến khô gầy, người chỉ còn khoảng 35–37 kg. Dì Sâm đau thương đến còng lưng.
Sau này, mự Long được phong tặng danh hiệu Bà mẹ Việt Nam Anh hùng. Dì Sâm không hiểu sao không được phong tặng danh hiệu ấy. Thế nhưng gia đình dì không một ai thắc mắc hay có ý kiến. Đó chính là phẩm chất của những người nông dân hiền lành.
Năm 1966, cấp trên đưa gia đình tôi ra miền Bắc theo chính sách bảo vệ gia đình cán bộ đi B. Chúng tôi đi ô tô từ Vinh ra Hà Nội mất bảy ngày, vừa đi vừa tránh máy bay. Đến Thanh Hóa, chúng tôi phải đi bộ vì cầu Hàm Rồng bị đánh sập. Khi ấy mới sáu tuổi, tôi vừa đi vừa ngủ gật trong đêm.
Ngày xa chị Long, xa mảnh đất Nghi Trung yêu thương, tôi buồn lắm. Ra miền Bắc, tôi rất nhớ chị Long và xóm Lượng xuân.
Năm 1966, mẹ tôi sinh em Mai. Vài năm sau, mẹ con tôi về Nghi Lộc thăm các cậu, các dì. Tôi vui lắm khi được gặp lại chị Long. Lúc đó, tôi rất bất ngờ khi thấy chị đã có con.
Sau này lớn lên, tôi mới được nghe kể lại: Một đơn vị cầu đường về sửa chữa nhựng tuyến đường bị bom Mỹ đánh phá. Một tốp công nhân ở nhờ nhà cậu Long và một người công nhân đã đem lòng thương chị.
Chị Long của tôi đẹp lắm. Vậy mà đã ngoài 30 tuổi, chị vẫn chưa nhận lời ai. Thế nhưng, chị lại trao tình cảm cho người công nhân cầu đường tên là Tý. Chị có thai và sinh con. Anh Tý lại tiếp tục lên đường theo những tuyến đường bị bom Mỹ tàn phá… Sau này, sự thật mới vỡ lở: anh Tý đã có vợ.
Chị Long đau đớn, nhưng bé Hiền đã mang lại cho chị niềm vui và tình yêu cuộc sống.
Cháu Hiền, con gái chị, đáng yêu lắm. Cái đầu cháu bị bẹp một bên vì khi sinh con, chị Long chưa có kinh nghiệm, thường để cháu nằm một tư thế mà không xoay đầu. Cháu lững chững quanh sân, miệng bi bô.
Cậu Long thương cháu lắm. Từ khi anh Lâm mất, tất cả tình yêu thương của cậu dồn hết cho cháu. Cậu hỏi:
– Hiền học lớp mấy?
– Hiền học lớp một bú!
Cái Hiền trả lời ông bằng giọng ngọng nghịu. Cậu Long cười khà khà, ôm cháu vào lòng nựng nịu…
Rồi mẹ con tôi lại ra Bắc, xa chị Long, xa gia đình cậu Long, cậu Tràng và dì Sâm.
Một ngày, khoảng năm 1969, tôi đi học về và nấu cơm chờ mẹ. Buổi trưa, mẹ đi làm về, vừa đi vừa khóc. Tôi không hiểu chuyện gì. Tôi dọn cơm nhưng mẹ cũng không ăn. Mãi sau, mẹ mới nói:
– Chị Long của con mất rồi. Cảnh viết thư báo chị Long và cháu Hiền bị bom Mỹ, mất rồi…
Mẹ đưa cho tôi lá thư do anh Cảnh viết. Nội dung bức thư kể rằng:
Hôm đó có báo động. Cả nhà cậu Long gồm cậu, mự, chị Long và cháu Hiền chạy xuống căn hầm chữ A ở góc vườn. Trong hầm, cháu Hiền vẫn hồn nhiên chơi và hát tiếp bài: “Anh phi công ơi, anh bay trên trời…”
Rồi bom nổ.
Một mảnh bom xuyên qua đầu bé Hiền, khiến cháu chết ngay trên tay mẹ. Mảnh bom tiếp tục xuyên xuống, cắt mất một mảng thịt ở mông chị Long. Máu chảy rất nhiều.
Sau tiếng bom và tiếng máy bay, dân quân cùng dân làng nhanh chóng kéo đến. Mọi người cố giữ chị Long lại để băng bó vết thương, nhưng chị gào khóc, ôm chặt bé Hiền vào lòng. Cậu Long và mự Long ngất lên ngất xuống. Máu và óc của bé Hiền ướt đẫm người chị Long, cậu Long…
Dân quân khiêng chị đi bệnh viện, nhưng chị vật vã, không cho mọi người băng bó vết thương. Cuối cùng, chị mất vì máu chảy quá nhiều…
Mẹ con tôi trở về thăm cậu, mự Long. Cậu lặng lẽ, ánh mắt vô hồn.
Trong bữa cơm, mới ăn được vài miếng, cậu đã buông đũa, lấy từ trong túi ra một gói ni lông nhỏ, ôm mặt khóc và gọi:
– Hiền ơi…
Nước mắt của cậu rơi đầy bát cơm.
Tôi hỏi mẹ và được biết trong gói ni lông ấy có một mảnh xương sọ của cháu Hiền. Dù nhiều người khuyên cậu nên chôn mảnh xương ấy cùng cháu, nhưng cậu nhất quyết không chịu.
Ngày ngày, cậu ngồi nhìn góc vườn, nơi căn hầm chữ A bị bom Mỹ đánh sập, rồi lại lấy gói ni lông ra nhìn và khóc. Trong các bữa ăn cũng vậy, mới ăn được vài miếng, cậu lại lấy gói ni lông ra, nước mắt chan đầy bát cơm.
Cậu Long tôi mất một năm sau đó vì quá đau buồn.
Căn nhà chỉ còn lại một mình mự Long. Ngày ngày, mự thắp hương cho chồng, cho con, cho đứa cháu bé bỏng mới ba tuổi và ra cổng đứng trên con đường làng, nơi ngày xưa mự tiễn anh Lâm ra trận, nhìn những đoàn tàu hi vọng . Người mự Long khi ấy chỉ còn khoảng 35 kg, đau thương phủ kín căn nhà, phủ kín cuộc đời mự.
Tháng bảy ( AL), sắp tới ngày giỗ của chị Long và cháu Hiền, lòng tôi lại xót xa:
Trên thế gian này, có gia đình nào phải chịu nhiều đau thương như gia đình cậu Long, mự Long của chúng tôi không?
Một ngày tháng Bảy, ở Maxcova, vợ tôi đứng nấu cơm và hát bài “Chị tôi” của Trần Tiến. Nước mắt tôi trào dâng nhớ về quê hương, nhớ chị Long.
Tháng Bảy, tôi nhớ trái cam chị Long cho tôi mang đến chúc Tết thầy Hán, người thầy dạy tôi học vỡ lòng. Tôi nhớ trong cơn sốt mê man, tôi cầm tay chị và gọi: “Mẹ ơi!”. Tôi nhớ ánh mắt thương yêu ngập tràn nước mắt của chị và bàn tay chị đặt lên trán tôi. Tôi nhớ bát thuốc đen ngòm, đắng nghét đã dành tôi từ tay thần chết trở về. Tôi nhớ những đêm nằm ôm chị và gọi: “Mẹ ơi!” trong mơ.
Tuổi thơ của tôi phải sống xa mẹ, nhưng tuổi thơ ấy có một người luôn yêu thương tôi như mẹ. Đó là chị Long!