Nhớ về những năm 60 – 70 của thế kỷ trước, ký ức trong tôi lại ùa về như một thước phim quay chậm. Thời ấy, ở ngôi làng nhỏ quê tôi, con đường đến trường của bọn trẻ chỉ có một phương tiện duy nhất: đôi chân trần. Chẳng nhà nào có xe đạp, mà dù có cũng làm gì có đường rộng để đi. Hằng ngày, chúng tôi đến lớp qua những con đường mòn quanh co men theo sườn đồi, luồn qua rừng tre, rừng nứa và những bãi lau sậy rậm rạp ngút ngàn. Đã không ít lần trên đường đi học, lũ trẻ giật mình đứng khựng lại vì bắt gặp lợn rừng, hay rùa, rắn bò ngang qua lối đi.
Gian nan nhất là những ngày mưa lũ. Nước từ nguồn cuồn cuộn đổ về đục ngầu, chảy xiết. Muốn qua sông, qua suối để đến trường, chúng tôi phải đánh đu mạng sống trên những chiếc bè chuối, mảng tre chòng chành giữa dòng nước dữ. Có hôm tới được lớp học thì ướt nhẹp, mấy thầy trò lại nhóm lửa ngay góc sân, ngồi hơ quần áo cho khô rồi mới vào tiết học. Mùa mưa, đường làng trơn như đổ mỡ, vết chân trâu bò lún sâu tạo thành vô số vũng bùn đọng lại như hàng trăm chiếc ao con. Nắng lên cả tuần mà đường vẫn chưa kịp khô. Đi học mùa hè, chân ngâm nước bùn nhiều nên bị “nước ăn” đỏ rực, ngứa rát ở từng kẽ ngón và gan bàn chân. Đêm nằm ngủ, cơn ngứa hành hạ không sao chợp mắt, cứ nhè thành giường hay mép chiếu cói mà cọ, mà gãi… gãi cho đã đời, gãi đến rớm máu mới yên.
Thuốc chữa ngứa ngày ấy cũng thật đơn sơ, gói gọn trong vài mảng lá vườn nhà: lá lốt, lá xoan, lá trầu đun sôi với chút muối hạt, để nguội rồi ngâm chân. Thỉnh thoảng mới mua được ít phèn chua của mấy bà buôn hàng xén đem phi nóng, tán nhỏ rồi rắc vào chỗ ngứa. Phèn chua vào đến đâu, nhanh khỏi đến đấy nhưng xót đến điếng người, nhăn nhó cả mặt mày. Đứa nào bị nặng, nhiễm trùng lại được bác sĩ làng bôi cho thuốc đỏ, thuốc tím chói lọi, trông bàn chân nham nhở như một bức tranh tô vẽ vụng về.
Rồi mùa đông đến mang theo cái lạnh cắt da cắt thịt. Học sinh đi học, đứa tay cầm đuốc lửa, đứa ôm bùi nhùi rơm bện chặt đốt cháy để lấy hơi ấm. Đôi chân trần giẫm trên sương muối nứt nẻ rớm máu tươi, đau rát vô cùng. Tối về, mẹ lại nấu nước tai chua khô hoặc lấy tro bếp trộn với nước như bột bánh đem đắp chân cho mềm da, rồi bôi ít mỡ trăn, mỡ gà chống nẻ. Những khái niệm như “kem sáp”, “kem nẻ” thời đó với chúng tôi là một điều gì đó vô cùng xa xỉ…
Nhưng dù nắng hè gắt gao hay mưa đông giá lạnh, lũ trẻ chúng tôi vẫn đầu trần chân đất đến trường. Trên vai là chiếc túi vải tòng teng vài cuốn sách, cây bút chì, bút mực. Ác mộng nhất là lọ mực nước: nếu không nút kỹ bằng nút cao su hay vặn chặt, mực rỉ ra thấm đen cả vở, loang lổ cả áo quần. Bàn tay đứa nào đứa nấy lúc nào cũng nhem nhuốc những vệt mực tím, mực đen. Mực đã thiếu, giấy lại càng hiếm hoi. Giấy viết chỉ là loại giấy hẩm đen, không dòng kẻ, mặt trơn mặt ráp, thậm chí có cả những lỗ thủng nhỏ. Mỗi tập giấy “phê đúp” 20 tờ được gập đôi, cắt ra rồi khâu lại thành quyển vở. Nhãn vở là mảnh giấy nháp cắt vuông vắn, tự viết tên rồi dính vào bìa bằng vài hạt cơm nguội. Nhiều khi vì thiếu vở, hai ba môn phải ghi chung một quyển, đến lúc thầy cô thu bài kiểm tra lại luống cuống không biết lấy gì để ghi bài mới.
Chúng tôi viết bằng bút ta ngòi sắt tra cán gỗ, cứ viết được vài chữ lại phải chấm mực một lần. Mực là loại bột khô mua về tự pha nước. Lên lớp lớn mới được dùng bút máy bơm mực Cửu Long, Hồng Hà… Mực lọ hiếm nên vẫn phải dùng mực bột tự pha; viết bút ta còn đỡ, chứ viết bút máy mực có cặn nên rất hay tắc. Mỗi lần vẩy bút xuống đất cho mực chảy là một lần mực bắn tung tóe lên quần áo bạn ngồi bên. Sách giáo khoa thì quý như ngọc. Nhận sách về, đứa nào cũng nâng niu bọc bìa cẩn thận bằng vỏ bao xi măng hoặc giấy báo cũ, tuyệt đối không ai được vẽ bậy hay viết vào sách. Mấy bạn chung nhau một cuốn là chuyện bình thường. Có những cuốn sách được “truyền tay” qua 3 – 4 thế hệ học trò mà khi mở ra vẫn lành lặn, thơm tho.
Lớp học ngày ấy đơn sơ lắm, chỉ là mái nhà tranh vách nứa thấp bé, gió lùa hun hút qua từng kẽ phên đan. Bàn học bằng gỗ thô ráp, mặt bàn đóng hơi nghiêng, có vát rãnh nhỏ phía trên để bút khỏi lăn; mỗi ngăn bàn là “ngôi nhà chung” của năm đứa học trò. Bàn gỗ không đủ thì làm thêm bàn tre có chân chôn xuống đất, mặt bàn bằng dát tre, ghế ngồi chỉ là những ống vầu xếp lại. Nhiều khi đang ngồi, chỉ cần sơ ý một chút là bàn bị đổ, sách vở rơi lăn lóc. Trong giờ học, thầy cô giảng bài, chúng tôi phải khoanh tay vuông vức đặt lên bàn, mắt nhìn lên bảng đen, khi nào thầy cô cho chép bài mới được cầm bút. Mùa bão về, mái tranh bị tốc, vách sập, thầy trò lại phải học dồn hoặc chia ca. Học ca chiều, tan lớp là trời đã tối mịt. Đường về nhà trong mưa gió gian nan là thế, nhưng tuyệt nhiên hiếm khi có ai bỏ học.
Giữa thời chiến tranh nghèo khó, áo rét chỉ là những manh áo sợi hay áo bông cũ may lại, làm gì đã có áo len, áo phao rực rỡ như bây giờ. Những ngày mưa rét, đứa nào đứa nấy run lẩy bẩy, bàn tay tê cứng cầm bút gõ lách cách trên mặt bàn, dòng chữ viết ra nhòe nhoẹt vì hơi thở xuýt xoa phả ra như khói… Ấy vậy mà đằng sau cái lạnh cắt da đó, đôi mắt đứa nào cũng sáng rực lên trên từng trang vở mới.
Ký ức tuổi thơ còn gắn liền với môn “học tính” thời cấp I. Mỗi đứa đều có một bó que tính bằng tre vót nhỏ hơn chiếc đũa; giờ học thì làm toán, giờ ra chơi các bạn nữ lại dùng chính những que tre ấy để chơi chuyền. Lên cấp II, chúng tôi tự tay đẽo gọt làm những chiếc bàn tính khung gỗ, tiếng các hạt gỗ lách cách vang lên nghe thật vui tai! Tôi thích nhất là tiết Thủ công – thế giới của sự sáng tạo. Chúng tôi được học đan rổ rá, vót đũa, làm thước kẻ, nặn quả cam, quả chuối bằng đất sét rồi tô màu. Màu vẽ chẳng có sơn hay bột màu, tất cả đều lấy từ thiên nhiên: màu vàng từ củ nghệ, màu đỏ từ lá cơm nếp, màu trắng từ vôi tô tường, màu đen từ nhọ nồi đáy chảo… Những “tác phẩm nghệ thuật” đầu đời tuy đơn sơ nhưng đã nuôi dưỡng trong chúng tôi niềm say mê khôn xiết.
Năm lớp 4 – năm cuối cấp I ngày ấy, tôi nhớ nhất những giờ tập hát toàn trường. Thầy cô đâu được đào tạo âm nhạc bài bản, nhưng ai cũng hóa thành những “ca sĩ bất đắc dĩ”, bắt nhịp cất cao tiếng hát sôi nổi để học trò hát theo. Là lớp “đàn anh” lớn nhất trường, lớp tôi thi đua rất sôi nổi dưới khẩu hiệu: “Giữ cờ xanh – giành cờ đỏ – bỏ cờ trắng.” Đặc biệt, phong trào “sửa lỗi nói ngọng” diễn ra vô cùng rộn ràng. Cả lớp cười nghiêng ngả với những câu luyện đọc hài hước như “Nòng nợn – lòng lợn”, “Con tâu – con trâu”, hay “Hôm nay ngày hội làng ông Lang ăn lòng lợn luộc”, “Nồi đồng nấu ốc – nồi đất nấu ếch”… Tiếng cười hồn nhiên ngày ấy cứ vang xa như hoa rừng nở rộ giữa đại ngàn.
Sáng đi học, chiều đi chăn trâu, chúng tôi tranh thủ mang sách vở ra đồng học bài vì tối đến nhà làm gì có dầu đèn. Có bạn còn đi nhặt nhựa cây trám về đốt lên thay nến. Không có bút, chúng tôi dùng cành cây nhọn vạch xuống đất làm toán, viết chữ lên lưng trâu, hay mặt dưới tàu lá chuối… Cách học ấy tuy lạ mà lại nhớ rất lâu. Nhưng vui nhất vẫn là những buổi đi cổ động và cắm trại. Cả trường xếp hàng dài, tiếng trống rộn ràng thúc giục, miệng hô vang các khẩu hiệu mừng Quốc khánh, bầu cử hay chống Mỹ cứu nước. Trại cắm ngày ấy đơn sơ mà đấm ấm đến vô cùng. Mái lều được căng lên từ chiếc chăn chiên hay tấm ri-đô cũ, điểm xuyết thêm vài cành lá cọ, lá đao xanh mướt cùng những nhành hoa rừng vừa hái trên đồi. Khi đêm xuống, ngọn lửa trại bùng lên soi hồng từng nét mặt thơ ngây. Cả trường quây quần bên tiếng trống rộn ràng, cùng chơi hái hoa dân chủ, múa hát và thi kéo co… Tiếng cười vang xa giữa không gian đại ngàn. Tiệc liên hoan chỉ vỏn vẹn mấy củ khoai nướng thơm lừng, khúc mía lùi ngọt lịm hay nải chuối chín cây nhà tự trồng, vậy mà niềm vui cứ đong đầy, tưng bừng như Tết đến.
Bao năm tháng trôi qua, quê hương tôi nay đã đổi thay kỳ diệu. Con đường mòn lầy lội năm xưa nay đã được thay bằng đường bê tông phẳng lì chạy thẳng về tận ngõ. Mùa khai trường lại về, lũ trẻ ríu rít đi học trên những chiếc xe đạp, xe điện thong dong. Quần áo mới tinh tươm, ba lô xinh xắn trên vai, chiếc khăn quàng đỏ thắm tung bay phơi phới trong nắng thu vàng. Trường học cao tầng khang trang, điện sáng rực rỡ, bàn ghế thẳng tắp. Sân trường rộng lớn rợp bóng cây xanh, rực rỡ cờ hoa cùng tiếng trống khai trường giòn giã vang xa…
Thời gian khó qua đi, tôi lại càng thêm yêu và trân trọng cái thời nghèo khó mà kiên cường ấy. Những bước chân trần lấm bùn, rớm máu ngày xưa đã thắp lên trong tôi và trong cả một thế hệ , một ngọn lửa khát vọng không bao giờ tắt. Chính từ gian khổ, chúng tôi đã học được ý chí vươn lên, biết trân quý từng con chữ, từng trang sách, từng cơ hội được đến trường.
Mong sao thế hệ hôm nay, những mầm non trong tà áo trắng tinh khôi dưới mái trường hiện đại, sẽ luôn biết nâng niu và giữ gìn giá trị của sự học. Bởi học không chỉ để biết chữ, mà học là để làm người, để yêu quê hương đất nước và rèn luyện bản lĩnh làm chủ tương lai; cống hiến hết mình để đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, kỷ nguyên vươn mình của dân tộc Việt Nam hùng cường, giàu đẹp và hạnh phúc!
Mùa thu – 2026
Nguyễn Hồng Quang